Kính thưa quý thính giả,
Trong những tuần vừa qua, chúng ta có dịp tìm hiểu một số bằng chứng lịch sử, ghi đậm dấu ấn sự kiện phục sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Thánh sử có ký thuật lại, Chúa Cứu Thế Giê-xu, hay chính là Thiên Chúa Ngôi Hai trong thân xác con người, sau khi bị đóng đinh cho đến chết trên cây thập tự, đền nợ tội thay cho muôn người, Ngài đã bị chôn vào trong mộ đá. Chúa Cứu Thế đã không chết luôn, nhưng sau ba ngày, Ngài đã phục sinh sống lại và đi đến với rất nhiều người.
Sự kiện phục sinh của con người mang tên Giê-xu đã gây ra những chấn động dữ dội trong lịch sử. Những môn đệ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, khi thấy Thầy mình bị người ta xử tử thật thê lương, rất sợ hãi và vô cùng hoang mang, nhưng sau khi tận mặt gặp lại Cứu Chúa phục sinh, đã trở lại tin tưởng trọn vẹn. Từ khiếp sợ và lẫn trốn, các môn đệ này đã trở nên vô cùng can đảm, công khai loan báo cho cả thế giới về tin vui phục sinh này, cho dù họ phải chịu hiểm nguy, bị bắt bớ, bị đòn roi, bị tra tấn và bị xử tử thật dã man.
Cách đây hơn 2000 năm, Thượng Đế đã sai Con Một của Ngài giáng trần, trong một con người mang tên Giê-xu. Sứ mạng chính của Chúa Cứu Thế Giê-xu khi đến trần gian này là, chết thay cho tội lỗi của muôn người, trong đó có quý vị và tôi. Sau khi bị chết treo thật đau thương trên cây thập tự, lãnh món nợ tội thế cho nhân loại, Chúa Cứu Thế bị đặt vào mộ đá. Thánh sử cũng ký thuật tiếp, sau ba ngày thì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã phục sinh, đã sống lại từ cõi chết và đi đến với rất nhiều người, trước khi Ngài từ giã họ để trở về trời.
Sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu là nền tảng của niềm tin của những ai tin nhận Ngài.
Vì tất cả chúng ta đều phạm tội với Đấng Tạo Hóa, đáng phải bị chết trong nơi đau khổ đời đời. Dầu biết vậy, chúng ta không ai mà tránh sao cho khỏi phạm tội, vì bản chất ưa phạm tội, đã ăn sâu trong suy nghĩ và thể hiện trong muôn vàn hành vi của chúng ta.
Kính thưa quý thính giả,
Chết là nỗi sợ hãi lớn nhất trong tất cả những nỗi sợ hãi của con người. Có ai trong chúng ta mà không sợ chết? Có ai trong chúng ta mà không khiếp sợ khi phải bước vào cõi đời đời kéo dài đến vô tận? Có ai trong quý vị và tôi không khỏi lo âu về số phận đời đời của mình sẽ ra sao sau cái chết?
Sở dĩ ai trong chúng ta cũng chết, vì tất cả mọi người đều phạm tội với Trời, đáng bị chết, theo như luật công bằng của Đấng Tạo Hóa, đã được bày tỏ rằng: “Ai phạm tội, kẻ ấy phải chết” (Ê-xê-chi-ên 18:4)
Bên cạnh luật công bằng bất di bất dịch, Kinh Thánh, và chỉ duy Kinh Thánh, cũng bày tỏ về lời hứa của Thượng Đế, đem con người từ cõi chết trở lại sự sống, như tiên tri Đa-ni-ên được cho thấy trước rằng: “Tất cả những người đã có tên ghi trong Sách Sự Sống đều sẽ được giải cứu. Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì được sống đời đời, kẻ thì chịu tủi hổ, sỉ nhục đời đời” (Đa-ni-ên 12:1-2)
Vào năm 1934, Adolf Hitler triệu tập các nhà lãnh đạo của Hội Thánh Đức đến phòng họp tại Berlin, quở trách vì họ đã không ủng hộ đầy đủ chương trình của ông. Mục sư Martin Nicmoller giải thích rằng sở dĩ ông không hết lòng ủng hộ chương trình của Hitler vì ông quan tâm đến phúc lợi của các tín hữu trong Hội Thánh và dân chúng Đức. Mục sư cũng mạnh mẽ nói rằng: Chúng tôi đã nhận trách nhiệm từ Đức Chúa Trời, dầu quyền lực của ông hay bất cứ một ai trên thế giới nầy cũng không thể tước mất. Nghe xong Hitler lặng yên không nói lời nào. Nhưng vào buổi chiều ngày đó, ông sai người đột kích nhà mục sư. Vài ngày sau đó, ông cho một người đặt bom làm nổ ngôi nhà thờ nơi mục sư đó làm quản nhiệm, đồng thời ông cho mật vụ ngày đêm theo dõi mục sư và sau đó giam ông vào ngục thất. Cho đến ngày 7 tháng 2 năm 1938, mục sư Martin bị giải đến tòa án. Vừa bước đi vừa lo lắng về thảm họa sắp xảy đến cho mình, khi vào phòng của tòa án, mục sư gặp một viên chức của Hitler nói nhỏ vào tai mục sư câu Thánh Kinh trong Châm Ngôn 18:10 ‘Danh Đức Chúa Trời là pháo đài kiên cố, người công chính đến được nơi trú ẩn an toàn’. Nỗi lo sợ của mục sư Martin liền biết mất vì câu Thánh Kinh nầy giúp sức cho mục sư Martin nhớ rằng Chúa là Đấng Cứu Chuộc, là Chúa Jesus, chính là pháo đài kiên cố, lúc nào cũng ở cùng mình và sẽ giúp mình chịu đựng mọi nghịch cảnh, mọi đau thương trong tại các trại tập trung của phát xít Đức. Ngài cũng trải qua nỗi khổ đau, bị chết nhục nhã trên thập tự giá, đến ngày thứ ba, Ngài đã sống lại và hiện nay Ngài đang ở với mục sư, dắt mục sư trong mọi lối đi của cuộc đời.
Kính thưa quý thính giả,
Có một câu chuyện kể lại rằng, trong một trận cháy rừng thật dữ dội kia, toán lính cứu hỏa đã tỏ ra thật can đảm và kiên cường, làm việc không ngừng nghỉ cho đến khi mọi đốm lửa đã hoàn toàn bị dập tắt. Khi toán lính cứu hỏa này tiến vào vùng đất đã bị cháy rụi đen ngòm, còn phảng phất những làn khói dật dờ từ các đống tro tàn âm ỉ, họ chợt nhận ra một khối u thật lớn trên con đường mòn.
Khi tiến lại khối u đó, họ chợt nhận ra đó là xác của một con chim thật lớn, mà hơn một nửa cơ thể của nó đã bị cháy thành than. Các loài chim to lớn như thế này thì có thể bay thật nhanh, thoát thật dễ dàng khỏi đám cháy thật đang lan dần tới. Điều này khiến cho toán lính cứu hỏa này rất thắc mắc, có chuyện gì trục trặc khiến con chim to lớn này không thể bay thoát đi khỏi đám cháy. Có phải nó bị thương hay bị bệnh chăng?
Kính thưa quý vị và các bạn,
Có một người can tội giết người và có một người đến tận tử ngục để thăm anh một ngày trước khi anh bị xử tử. Khi thấy người đến thăm trong chiếc áo choàng đen, tay cầm quyền Thánh Kinh, anh quát lớn với người cai ngục rằng: "Tôi không muốn gặp bất cứ nhà truyền đạo nào. Trước đây tôn giáo đã chẳng giúp gì cho tôi, giờ nầy cũng chẳng làm cho tôi tốt đẹp hơn!" Người khách lạ đó nhìn thật sâu vào đôi mắt tên tử tội rồi lặng lẽ quay lưng rời tử ngục. Ngày hôm sau, người ta tròng vào cổ anh ta sợi giây thòng lọng, anh nhìn quan tòa hỏi: "Đêm qua tôi không ngủ được, xin ông cho biết vị khách đến nhà giam thăm tôi đêm qua là ai?" Quan tòa lặng thinh một hồi lâu rồi nói: "Đó là viên thống đốc của tiểu bang nầy, ông ta có nhã ý thăm nhà ngục để ân xá anh, nhưng anh đã khước từ sự ân xá đó!"
Hơn hai ngàn năm trước, Chúa Cứu Thế của nhân loại đã xuống đời, dùng chính máu của Ngài đổ ra để cứu nhân loại, nhưng có rất nhiều người đã khước từ ân huệ đó, họ tự chọn cho mình con đường địa ngục!
Kính thưa quý thính giả,
Lãnh thổ bao la của đế quốc Nga ngày nay, vào những ngày hoang dã xa xưa, là vùng đất có rất nhiều bộ lạc tranh giành và chiếm đóng. Những bộ lạc nào chiếm đóng được vùng đất săn bắn tốt, có nhiều thú rừng, đất đai mầu mỡ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, thường là những bộ lạc hùng mạnh nhất, có được người tù trưởng khỏe mạnh, dũng cảm và đầy ngôn khoan hướng dẫn cả bộ lạc.
Có một câu chuyện kể lại rằng một bộ lạc hùng mạnh kia, mà bí quyết thành công của bộ lạc đó, phần lớn, nhờ vào sự công bằng và đầy khôn ngoan trong những luật lệ của bộ lạc đó, do chính vị tù trưởng đầy khôn ngoan thiết lập và bắt buộc mọi người phải nghiêm chỉnh thi hành.
Kính thưa quý thính giả,
Trong tuần qua, chúng ta vừa kỷ niệm Lễ Phục Sinh để tưởng niệm sự chết đau thương của Con Trời cách đây hơn 2000 năm trên cây thập tự. Chính Thiên Chúa Ngôi Hai đã tự nguyện giáng trần, làm một con người mang tên Giê-xu, để rồi đứng thế vào chỗ của chúng ta, chết nhục nhã, lãnh thay món nợ tội cho nhân loại.
Sau khi bị hành hình cho đến chết, Giê-xu đã được Giô-xép, một người giàu có và tốt bụng, xin lãnh xác Ngài để chôn vào một mộ đá bên sườn núi. Sau ba ngày, các phụ nữ thân tín của Giê-xu đến thăm mộ và khám phá ra ngôi mộ đã trống.
Chúa Giê-xu đã sống lại từ cõi chết, xuất hiện với thật nhiều người sau đó. Bản tin Chúa Giê-xu phục sinh đã mau chóng lan truyền khắp nơi, đem lại niềm hy vọng được tha tội và thoát ách tử thần cho những ai tin Ngài.
Sự kiện Chúa Giê-xu phục sinh là nền tảng cho Cơ Đốc giáo như sứ đồ Phao-lô từng khẳng định: “Nếu Chúa Cứu Thế đã chẳng sống lại, đức tin anh em hóa ra vô ích, anh em vẫn còn bị đày đọa trong tội lỗi, và nếu thế các tín hữu đã chết cũng vĩnh viễn hư vong” (1 Cô-rinh-tô 15:17,18).
Có thật chăng, nền tảng của Cơ Đốc giáo đặt trên sự kiện Chúa Giê-xu đã sống lại từ cõi chết, trong một con người bằng xương, bằng thịt rõ ràng? Một người chết mà có thể sống lại được chăng?
Harry Houdini là nhà ảo thuật lừng danh thế giới vào đầu thế kỷ 20 với biệt tài tự cởi trói và thoát xiềng. Ngồi trước khán giả với cả hai tay bị trói, hai chân bị cùm bằng những sợi dây xích thật to và những ống khóa chắc chắn, Harry Houdini cười ngạo nghễ: "Dầu bị trói cách nào, tôi cũng sẽ thoát ra được!" Harry Houdini được mệnh danh là ‘Lươn Linh Động’ uốn éo tài tình, là ‘Chú Mèo’ năng động nhanh nhẹn. Dầu bị giam cầm, cột trói bằng mọi cách, dầu bị đóng chặt trong những chiếc quan tài, bị táng trong nồi nước sôi, ông cũng vượt ra được. Dầu bị bỏ vào bao bố, chôn xuống lòng đất, ông cũng thoát ra. Dầu bị bỏ vào ngục thất với hệ thống an ninh kiên cố nhất, với sự canh chừng nghiêm nhặt nhất, ông cũng vượt ra khỏi ngục.
Nhưng rồi vào tháng 10 năm 1926, sau buổi trình diễn ở thành phố Montreal, Canada, ông đã trút hơi thở cuối cùng. Không ai biết chắc tại sao Harry chết. Theo lời tường thuật của hai học trò ông có mặt hôm đó thì màn vượt thoát nầy không do Harry phác họa mà lại do một sinh viên Đại Học McGill nghĩ ra. Trong màn trình diễn nầy, Harry bị trói chặt vào chiếc ghế dài, bị đánh vào bụng thật mạnh. Dầu ông đã thoát ra cách tài tình, nhưng ông đã bị chấn thương, cộng với bệnh ruột dư bộc phát, Harry cố sức nín chịu cơn đau đớn khủng khiếp đó, từ khước mọi sự chữa trị của các bác sĩ.
Kính thưa quý thính giả,
Ngành y khoa luôn luôn tìm tòi những phương thức để chúng ta sống khỏe hơn, được đẹp hơn và nhất là sống được lâu hơn. Với nhiều khám phá mới đây trong di truyền học, người ta đã xác định được những phần tử trong gen gây ra bệnh tật hay ung thư. Khi những phần nguy hiểm trong gen được xác định, để rồi được cải thiện hay loại bỏ, con người sẽ có hy vọng sống lâu hơn hết so với tất cả các thời đại khác trong lịch sử nhân loại.
Có thể nói, con người đang nỗ lực không ngừng để trì hoãn cái chết không thể tránh được, mà Kinh Thánh đã tuyên bố: “Vì đã định cho mọi người phải chết một lần rồi chịu xét xử” (Hê-bơ-rơ 9:27)
Vào đầu thiên niên kỷ này, có nảy sinh ra một ngành khoa học mới về phương thức ướp xác bằng cách giữ thật lạnh (cryonics), đã đem lại hy vọng là một người dầu chết rồi, cũng có thể tái sinh lại được. Người ta xây một nhà ướp xác hiện đại, cách thành phố Los Angeles khoảng 50 cây số. Tại đây, những xác chết đầu tiên được giữ lạnh từ năm 1993 bằng khí nitrogen lỏng, ở khoảng nhiệt độ âm 193°C. Những thi hài được giữ lạnh và bao kín, đặt vào trong hầm ở dưới đất và chờ một ngày trong tương lai sẽ được lấy ra, khi ngành y khoa tương lai khám phá được cách thức phục hồi một xác chết. Tiền tổn phí ướp xác thật là nhiều, không biết bao nhiêu mà kể, bởi vì khi nào thì con người mới khám phá ra cách phục hồi một xác chết? Đó là chưa kể, nếu có phục hồi được, thì rồi người đó cũng sẽ chết nữa mà thôi!
Trên đời nầy ai cũng cần tình yêu vì tình yêu mang lại niềm vui và an bình cho con người. Tình yêu là chìa khóa mở những cánh cửa hạnh phúc nhưng không phải tình yêu nào cũng đem lại hạnh phúc thật sự cho con người. Theo tiến sĩ Masumi Toyotome có ba loại tình yêu:
(1) “Tình Yêu Nếu”: Đây là tình yêu có điều kiện. Người ban tặng tình yêu đòi hỏi người nhận phải thỏa đáng điều kiện của mình. Chẳng hạn như người con trai đặt điều kiện với người con gái rằng: Nếu em đẹp, em thỏa mãn những đòi hỏi của anh thì anh mới yêu em. Người con gái đặt điều kiện với người con trai rằng: Nếu anh thành công, đạt được địa vị trong xã hội thì em mới yêu anh! Chúng ta thấy loại tình yêu nầy có rất nhiều trong phim ảnh, báo chí… Nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ vì người ta đã xây dựng hạnh phúc của mình trên loại tình yêu nầy.
Cách đây khá lâu, trên trang đầu của nhật báo tại Nhật đăng tin một thanh niên tự tử vì đã rớt đại học sợ làm buồn lòng cha mẹ. Khi còn ở trung học, cậu học rất chăm chỉ, ngoài giờ học ở trong trường cậu còn học thêm. Nhưng năm đó cậu đã thi rớt đại học. Sợ cha mẹ buồn, cậu không dám về nhà, mà đi thẳng đến suối nước nóng ở Ha cone, và ở đó suốt một tuần.
Kính thưa quý thính giả,
Nước Úc đang vào thu. Những giọt mưa thu đầu mùa có đem một ít tươi mát dễ chịu, nhưng nỗi kinh hoàng về mùa hè nóng bức vừa qua vẫn còn in đậm trong tâm trí của người dân, nhất là tại Victoria, nơi đã xảy ra trận cháy rừng kinh hoàng nhất trong lịch sử của tiểu bang này.
Ba năm hạn hán kéo dài, đất đai nứt nẻ, cây rừng khô cằn, sông rạch dần dần biến mất, hồ chứa nước xuống thật thấp, phơi bày đáy hồ đầy sỏi đá. Mùa hè năm 2009 tại tiểu bang Victoria, Úc Đại Lợi, với luồng gió nóng tưởng chừng như bất tận, đã đẩy cột thủy ngân vượt trên 44°C (111.2°F) trong năm ngày liên tiếp, để rồi qua ngày thứ bảy lịch sử, ngày 7 tháng hai năm 2009, mà người dân Úc gọi là “The Black Saturday” hay “Ngày Thứ Bảy Đen”, khi nhiệt độ lên cao đến mức kỷ lục 46.4°C (115.52°F) lại thêm gió mạnh, cộng với một số hành động phá hoại, đã khiến bộc phát ra trận cháy rừng dữ dội, lan tràn khắp miền quê của tiểu bang này, trong hơn bốn tuần lễ.
Cơn bão lửa đi qua đã thiêu rụi gần nửa triệu héc-ta rừng, đốt cháy khoảng gần 2000 ngôi nhà, làm thiệt hại hàng ngàn ngôi nhà khác, đẩy khoảng 7500 cư dân vào cảnh vô gia cư. Một số thị trấn xinh đẹp và nên thơ của tiểu bang Victoria giờ đây chỉ còn trong ký ức. Cơn bão lửa quá dữ dội, vượt quá dự tính của nhiều người, đã cướp đi sinh mạng của khoảng 210 người. Sự thiệt hại về tài sản, của cải thật nhiều, nhưng cũng không sao sánh nỗi với niềm đau trước cảnh tang tóc chia lìa của nhiều gia đình. Nước Úc đã dừng lại mọi sinh hoạt, để cùng nhau tưởng đến nhớ các nạn nhân của trận bão lửa, trong buổi lễ tưởng niệm long trọng, được tổ chức vào ngày Chúa Nhật 22 tháng hai năm 2009 tại Melbourne, thủ phủ của tiểu bang Victoria.
Kính thưa quý thính giả,
Chỉ còn hai tuần nữa là thế giới bước vào Lễ Phục Sinh. Ngày lễ thật đặc biệt này bắt đầu từ ngày thứ sáu Good Friday, kỷ niệm sự khổ nạn mà Chúa Cứu Thế Giê-xu đã gánh chịu trên cây thập tự cách đây khoảng 2000 năm. Ngày lễ được tiếp tục qua đến ngày Chúa nhật sau đó, còn được gọi là Chúa Nhật Phục Sinh, nhắc nhở sự sống lại của Chúa Giê-xu, sau khi Ngài đã bị hành hình cho đến chết và được đặt trong mộ đá được ba ngày.
Mọi người đã phạm tội với Thiên Chúa và đáng tội chết, nhưng vì tình yêu lớn lao, Thiên Chúa Ngôi Hai đã tự nguyện giáng trần, trở nên con người mang tên Giê-xu, để rồi đứng thế vào chỗ của chúng ta, lãnh trọn món nợ tội trên cây thập tự. Thiên Chúa đã hài lòng với của lễ chuộc tội hoàn hảo qua cái chết đau thương của Con Một của Ngài, nên đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ cõi chết, sau ba ngày sau khi được đặt trong mộ đá.

Kính thưa quý vị và các bạn,
Cách thành phố Los Angeles 200 dặm về phía bắc, có một vùng đất khô cằn với sức nóng nung người, một nơi được gọi là ‘Thung Lũng Chết’. Đây là phần đất thấp nhất của tiểu bang California, thấp dưới mặt biển khoảng 90 thước, một nơi nóng nhất nước Mỹ, nhiệt độ đo được 55°C (134°F). Vì quá nóng cho nên bao nhiêu dòng nước từ những cơn mưa chảy xuống đều bị khô cạn. Đây cũng là nơi hạn hán, vì trời ít khi mưa.
Nhưng trong những năm gần đây, có một hiện tượng lạ xảy ra, có nhiều trận mưa trút xuống ào ào liên tiếp 19 ngày trên vùng thung lũng nóng cháy nầy khiến cho bao loại cỏ cây đâm chồi nứt lộc, biến thung lũng chết nầy trở thành một vùng đất sống, một nơi xanh tươi tràn đầy sức sống.
Kính thưa quý vị,
Sức sống Chúa Phục Sinh biến cuộc đời nóng cháy khô cằn như sa mạc của chúng ta trở thành một ốc đảo xanh tươi với những dòng suối mát, những bông hoa trổ mùi hương, những quả nho chín mọng ngon ngọt. Chúa đã biến cảnh đau thương đầy nước mắt của cuộc đời tăm tối chúng ta thành bình minh tràn đầy hy vọng và niềm vui. Vì Đấng Cứu Chuộc ta đã sống, Ngài đã đắc thắng tử thần, ban lại sức sống mới cho những ai thuộc về Ngài.
Thánh sử ký thuật trong buổi sáng Phục Sinh, các môn đệ Chúa trốn hết vì khiếp sợ chính quyền La mã, chỉ quý bà quý cô vì lòng yêu Chúa, không sợ bạo quyền, không chùn bước trước mọi trở ngại đã đến xức xác Chúa. Họ không ngờ Chúa của họ đã sống lại, họ thấy hòn đá lấp cửa mộ đã lăn qua một bên, họ vội vả chạy tìm hai môn đệ thân tín của Chúa và báo tin rằng: Người ta đã dời thi hài Chúa khỏi mộ, không biết để tại đâu?" Hai môn đệ nầy liền chạy đến mộ, kẻ tới trước người đến sau. Người thứ nhất đến trước, thấy vải liệm nhưng không dám vào. Người đến sau bước vào xem xét thấy vải liệm còn đó, tấm khăn trùm đầu thì cuốn lại được để qua một bên, không nằm chung với vải liệm. Lúc bấy giờ môn đệ ấy mới tin rằng lời báo của các phụ nữ đó là đúng. Vì đến lúc đó họ chưa hiểu lời Thánh Kinh nói trước rằng "Chúa Sẽ Sống Lại". Hai môn đệ ấy trở về nhà. Rồi đến tối hôm đó, các môn đệ họp mặt với nhau trong phòng kín, vì sợ người Do Thái. Thình lình Chúa Jesus đứng giữa phòng chào mừng họ rằng: "Bình An cho các con".

Kính thưa quý thính giả,
Sự phục sinh, hay sự sống lại của Chúa Giê-xu là trọng tâm của niềm tin Cơ-đốc giáo. Sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-xu là nền tảng duy nhất của niềm tin Cơ-đốc; hay nói một cách đơn giản, nếu Chúa Giê-xu không thực sự sống lại, thì niềm tin vào Ngài trở nên trống rỗng và vô ích. Nếu Chúa Giê-xu không phục sinh, thì niềm hy vọng vào một thiên đàng vĩnh cửu cho những người tin vào Ngài, chỉ là một ảo ảnh, không hơn, không kém. Nếu sau khi bị xử tử trên thập tự, bị chôn trong mồ, sau ba ngày, nếu Chúa Giê-xu không sống lại, thì những người tin Ngài, cũng tiếp tục khiếp sợ, bị đọa đày dưới ách tội lỗi và cũng sẽ vĩnh viễn hư vong.
Do vậy, niềm tin vào Chúa Cứu Thế Giê-xu, sẽ đứng vững hay sụp đổ, hoàn toàn phụ thuộc vào sự thật là Chúa Giê-xu có thực sự sống lại hay không.
Trải qua gần hai ngàn năm, có bao nhiêu người tin vào những lời tường thuật trong Kinh Thánh về sự kiện Chúa Giê-xu phục sinh, nhưng cũng không ít người nghi ngờ, tìm cách phủ quyết. Thật kỳ diệu thay, khi những người này càng cố công lý luận, càng soi tìm dấu vết, thì càng bị thuyết phục về sự kiện phục sinh của Chúa Giê-xu.
Một lý thuyết cho rằng Chúa Giê-xu đã giả chết, hay chỉ bị ngất xỉu trên cây thập tự và sau khi bị đặt trong mồ đá ba ngày, nhờ hơi lạnh mà Ngài đã phục hồi và tỉnh lại. Kinh Thánh ghi lại, trước khi bị đóng đinh và treo trên cây thập tự, Chúa Giê-xu đã bị tra tấn dã man bằng đòn roi. Những roi da của La-mã thời đó, đầu roi có neo sắt nhọn, tước lấy da thịt. Đã vậy, Ngài phải gánh lê cây thập tự ra pháp trường, giữa đường bị đuối sức, không còn vác nỗi, nên bọn lính đã sai một người tên Si-môn vác thế. Các tài liệu sử học cho biết nhiều tử tội thời La-mã, đã chết vì bị tra tấn dã man và kiệt sức, trước khi bị đóng đinh trên thập tự. Làm sao Chúa Giê-xu có thể giả chết khi có hàng trăm người chứng kiến cảnh Ngài bị đóng đinh? Làm sao Ngài còn sống nổi khi chính viên sĩ quan La-mã chịu trách nhiệm xử tử Ngài, đã phối kiểm trước khi trao xác Ngài cho Giô-sép để đem đi chôn? Mà cứ cho là Ngài chỉ có ngất xỉu rồi tỉnh lại, sức lực đâu mà Ngài có thể xô được hòn đá chận cửa mộ nặng khoảng hai tấn? Làm sao Ngài có thể ung dung đi ra trước sự canh gác cẩn mật của toán lính canh La-mã lành nghề?

Chúa Giê-xu đã bị xử tử trên cây thập tự trong ngày thứ Sáu vừa qua. Trong buổi chiều tối của ngày thứ Sáu thê lương đó, Giô-sép, người quê ở A-ri-ma-thê, là một nhân viên uy tín trong Hội Đồng Quốc Gia Do-thái, nhưng cũng là người có thiện cảm với Chúa Giê-xu, đã bạo dạn xin quan tổng trấn Phi-lát cho lãnh xác Ngài để chôn. Vì đa nghi và cẩn trọng, quan tổng trấn Phi-lát đã ra lệnh cho viên đại đội trưởng, người chịu trách nhiệm xử tử Chúa Giê-xu, phải phối kiểm trước khi trao xác Ngài cho Giô-sép. Khi viên sĩ quan xác nhận Chúa Giê-xu đã tắt hơi, tổng trấn Phi-lát cho Giô-sép được lãnh xác Ngài. Giô-sép mua một cây vải gai, gỡ xác Chúa Giê-xu xuống khâm liệm, chôn trong huyệt đá đục bên sườn núi, rồi lăn một tảng đá lớn chặn trước cửa mộ.
Các vị lãnh đạo Do-thái giáo lấy làm hài lòng vì bản án tử hình Chúa Giê-xu đã được thực hiện mỹ mãn và giờ đây con người Giê-xu đã bị chôn trong mộ. Trật tự xã hội đã được vãn hồi. Tuy vậy, các vị lãnh đạo Do-thái giáo vẫn chưa thật sự yên tâm, vì họ có nhớ lời Chúa Giê-xu khi còn sống, đã nói với họ rằng “Sau ba ngày tôi sẽ sống lại”. Để đề phòng những sự bất trắc, các vị lãnh đạo tôn giáo xin quan tổng trấn ra lệnh canh gác mộ Giê-xu thật nghiêm nhặt suốt ba ngày, để đề phòng các đồ đệ đánh cắp xác, rồi phao tin đồn rằng Ngài đã sống lại. Quan tổng trấn Phi-lát chấp thuận, ra lệnh niêm phong tảng đá chận cửa mộ Giê-xu và đặt lính canh gác ngôi mộ thật cẩn mật, ngày cũng như đêm.

Khuôn mặt Chúa Giê-xu trở nên nhợt nhạt khi Người và các môn đệ tiến vào khu vườn quen thuộc Ghết-sê-ma-nê, nơi họ thường quây quần bên nhau để cùng cầu nguyện. Cũng trong khu vườn này, mười hai môn đệ thường thấy Người với dáng đứng thẳng, mặt Người hướng về Thiên Đàng, hai cánh tay Người dang rộng trong tư thế cầu nguyện của người Do-thái.
Người ra dấu cho các môn đệ dừng lại và căn dặn “Các con hãy ngồi đây và cầu nguyện, để khỏi bị cám dỗ”. Rồi Người ra dấu cho Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi theo Người, tiến sâu vào khu vườn. Tâm hồn Người bỗng thấy đau buồn, sầu não vô cùng. Người nói với ba người bạn thân tín, mà như đang nức nở: “Linh hồn Ta… buồn rầu tột độ!” Mỗi lần nói, là Người đang nhìn sâu vào trong đôi mắt của từng người, mà như muốn bật khóc “Linh hồn Ta…đau đớn muôn phần, các con có biết chăng?”. Ba người bạn thân thiết, chẳng hề hay biết, Người đang sắp phải đối diện với một cái chết cực kỳ thê lương. Mà chết là sứ mạng của Người, khi phải lìa bỏ Thiên đàng, để đến thế gian này. Nhưng Người chẳng nhận được một lời chia sẻ hay ủi an. Người căn dặn tiếp “Các con ở đây, hãy thức canh với Ta”.
Khuôn mặt Người trở nên như xám tro, mặc dầu Người đang tắm mình trong ánh trăng vàng ban đêm trong khu vườn. Người quay gót, cất bước chậm chạp, như đang cố gắng thật nhiều để vượt qua một chướng ngại vật vô hình, mới rời xa được ba người bạn thân một quãng khá xa. Dường như Người đã tới nơi mình đã định, Người không còn đứng để cầu nguyện, nhưng Người bỗng nhiên sụp mình trên hai đầu gối, như có ai đang đánh cho Người ngã xuống. Người sấp mặt xuống đất, kêu rên thật đau thương “Cha ơi, Cha ơi!” Cả thân Người rung lên vì những xúc cảm cực kỳ đau thương từ đáy tâm hồn. Người cất tiếng kêu lên một lần nữa “Cha ơi, Cha ơi, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này”. Rồi Người nói tiếp “…nhưng xin theo ý Cha, chứ không theo ý Con!”.

Kính thưa quý thính giả,
Chúng ta đang bước vào những ngày chuẩn bị Lễ Phục Sinh. Trong ngày thứ sáu tuần tới, tức là ngày 21 tháng ba năm 2008, nhiều quốc gia và dân tộc khắp nơi trên thế giới, trong đó có Úc Đại Lợi, sẽ trang trọng tổ chức Lễ Thương Khó, kỷ niệm một con người mang tên Giê-xu, hơn 2000 năm trước, đã bị hành hình và chết treo. Trong tiếng Anh, người ta trang trọng gọi ngày thứ sáu kỷ niệm này là Good Friday, hay trong tiếng Việt có nghĩa là “Ngày Thứ Sáu Tốt Lành”. Có điều gì tốt lành khi một người bị hành hình cho đến chết? Con người mang tên Giê-xu, một thợ mộc xứ Do-thái, bị nhà cầm quyền thời đó lên án như một người nổi loạn nguy hiểm nhất. Giê-xu đã bị xử tử trong một cái chết cực kỳ thê lương và nhục nhã. Người đã bị đánh đập dã man, bị đóng đinh trên cây thập tự, chịu đựng bao đau đớn cho đến khi kiệt sức tàn hơi mà chết. Có điều gì đáng quý trong cái chết đau thương này, mà nhân loại vẫn ngày nay vẫn tưởng niệm Người và trang trọng gọi ngày thứ sáu đau buồn này là Good Friday - Ngày Thứ Sáu Tốt Lành? Con người Giê-xu này là ai vậy? Cái chết đau thương của Người có quan hệ gì đến quý vị và tôi không?

Kính thưa quý vị và các bạn,
Vào buổi chiều kia nhiều năm về trước tại một thành phố nhỏ bên Anh Quốc, thầy của cậu con trai 14 tuổi đến nhà, hỏi cha cậu vì sao cậu đã vắng trường suốt ba ngày rồi. Sau khi tiễn ông giáo ra về, người cha đứng lặng người, ông không ngờ rằng con trai mình đã trốn học 3 ngày! Đang khi suy nghĩ miên man, thì cậu về đến, ông bảo con bước vào phòng mình, ông nói:
- Con có biết là cha lúc nào cũng tin tưởng con. Nhưng con đã lừa dối cha suốt ba ngày qua, lòng cha đớn đau không tả được!
Ngừng lại ít lâu người cha nói tiếp:
- Con hãy quỳ xuống đây! Người cha cũng quỳ xuống bên cạnh con để trút hết nỗi lòng mình cho Chúa. Lòng của cậu con cũng tan nát không ít. Cầu nguyện xong, hai cha con đứng lên, đôi mắt người nào cũng đầm đìa giọt lệ. Người cha nói:
- Con trai của cha! Đời sống nầy có một quy luật, quy luật đó là ‘Hễ nơi nào có ti, nơi đó có khổ đau!’ Con không thể tách chúng ra được. Con đã phạm tội. Con phải chịu hành phạt. Con phải dọn lên gác ở, cha sẽ dọn giường cho con. Đến giờ ăn cha sẽ mang cơm đến cho con. Con phải ở đó 3 ngày để chịu hành phạt tương xứng với thời gian con lừa dối cha.
