Previous

Tùng Tri - Dựa theo “Why You Can Have Confidence In The Bible” by Dr. Harold J. Sala & “The Bible and Medicine” by Dr. John Hellawell

Kính thưa quý thính giả,

Galileo Galilei là nhà thiên văn học thiên tài người Ý trong thế kỷ 17. Với chiếc viễn vọng kính đầu tiên do ông sáng chế, Galileo là nhà thiên văn đầu tiên quan sát được các vệ tinh của sao Mộc, cũng như các đồi núi chập chùng trên mặt trăng. Nhưng tên tuổi của nhà khoa học tài ba này được nhiều người biết đến nhiều nhất qua việc ông bị những người có thẩm quyền tôn giáo thời đó kết án vì công trình nghiên cứu khoa học của mình. Trước thời của Galileo, trong hơn 1500 năm, mọi người đều tin và và các trường đại học đều giảng dạy rằng “mặt trời quay chung quanh trái đất”, cho mãi đến thế kỷ 16, nhà thiên văn Nicolaus Copernicus, qua công trình nghiên cứu khoa học của mình, đã tuyên bố ngược lại, tức là “trái đất phải quay chung quanh mặt trời” mới đúng. Tuy vậy, lời tuyên bố này cũng chưa có gì là “lớn chuyện” cho đến khi Galileo Galilei, qua nhiều quan sát thiên văn với viễn vọng kính, hoàn toàn đồng ý với nhận xét của Copernicus và dành nhiều nỗ lực để phổ biến nhận định này. Điều này đã đi ngược với định kiến của một số người có thẩm quyền tôn giáo thời bấy giờ, với kết quả là Galileo buộc phải rút lại lời tuyên bố và bị xử án tù chung thân tại gia vào năm 1633. Chúng ta ngày nay đều biết rằng “trái đất quay chung quanh mặt trời” và như vậy Galileo đã bị xử oan.


Next

Tùng Tri - Dựa theo “Why You Can Have Confidence In The Bible” by Dr. Harold J. Sala

Đại tá Bill Anders là một nhà du hành vũ trụ lừng danh, từng lãnh nhiều huân chương và được ban tặng bằng tiến sĩ danh dự của nhiều trường đại học nổi tiếng. Trong sứ mạng của phi thuyền Apollo 8, đại tá Bill được giao phó điều khiển chiếc phi thuyền vệ tinh đầu tiên bay quanh mặt trăng. Khi đầu phi thuyền Apollo 8 trở về trái đất an toàn và đáp xuống thành công, nhóm điều khiển phi thuyền tại trung tâm NASA đã hỏi phi hành đoàn: “Ai lái phi thuyền ở trên đó vậy?” thì đại tá Bill đã hóm hỉnh trả lời: “Chính nhà bác học Isaac Newton”.

Kính thưa quý thính giả,

Đại tá Bill Anders muốn nói lên điều gì khi ông trả lời như vậy? Việc phóng phi thuyền ra khỏi trái đất để đi đến mặt trăng đã khó, nhưng việc đem phi thuyền trở về trái đất an toàn là một chuyện càng khó hơn nữa. Vì mặt trăng không cố định nhưng xoay chung quanh trái đất với chu kỳ 29 ngày rưỡi, cho nên người ta so sánh việc đem phi thuyền trở lại trái đất giống như có một chiếc xe lửa tốc hành đang chạy với vận tốc 200 cây số giờ trước mặt một người đứng cách xa đường rầy xe lửa khoảng 100 mét và người này đang cố gắng ném một trái táo lọt hẳn vào một cửa sổ của chiếc xe lửa này. Cách đây hơn 300 năm, nhà bác học thiên tài Isaac Newton sau bao năm nghiên cứu, thí nghiệm và tái thí nghiệm, đã công bố khám phá của ông về các quy luật hấp dẫn của những vật thể có khối lượng. Chính nhờ vào các khám phá này của Newton, người ta hiểu rõ quỹ đạo di chuyển của trái đất, mặt trăng và các hành tinh khác trong Thái Dương hệ và do vậy cơ quan NASA ngày nay mới có thể vạch ra đường bay cần thiết về đưa phi thuyền đi và về một cách chính xác và an toàn.


Tùng Tri - dựa theo “The Man In The Zoo” by Geoffrey Ward & “Ota Benga, The Man Who Was Put On Display In The Zoo” by Dr. Jerry Bergman

Kính thưa quý thính giả,

Một trong những câu chuyện thương tâm, minh chứng ảnh hưởng nguy hại của giả thuyết tiến hóa, trong quan hệ giữa con người với nhau, là câu chuyện thật nói về một người tên Ota Benga, một người đàn ông thuộc nhóm người pygmy nhỏ con ở Phi-châu, bị bắt và bị đem ra chưng bày tại một sở thú như một loại người rừng còn sơ khai trong quá trình tiến hóa. Câu chuyện đau lòng này vạch trần triết lý kỳ thị chủng tộc của giả thuyết tiến hóa, đã làm điên đầu các nhà khoa học chân chính, khiến bao trái tim còn có tình người cảm thấy thật xót xa.

Vào năm 1904, nhà thám hiểm nổi tiếng Samuel Verner, mang về Hoa-kỳ một người đàn ông từ xứ Belgian Congo. Người đàn ông này tên là Ota Benga, thuộc một bộ lạc gồm những người có tầm vóc nhỏ thó. Sau đó, Ota Benga được nhà thám hiểm Verner đem đến cho ông William Hornaday là giám đốc của sở thú Bronx tại Nữu Ước.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Vào những năm 1800, trước khi thuyết tiến hóa của Darwin được phổ biến, khi nhắc đến danh từ “chủng tộc”, người ta có ý phân biệt “chủng tộc người Anh”, chủng tộc người Pháp” hay “chủng tộc người Việt”, “chủng tộc người Trung Hoa” vv. Tuy vậy, khái niệm “chủng tộc” đã hoàn toàn đổi khác, kể từ khi Charles Darwin công bố tác phẩm “Nguồn Gốc Các Loài” vào năm 1859, mà trong đó ông cho rằng, các loài sinh vật khác nhau, trong đó có các chủng tộc khác nhau của con người, là kết quả của quá trình chọn lọc trong tự nhiên hay quá trình đấu tranh để sinh tồn.

Giả thuyết tiến hóa của Darwin hàm chứa một triết lý kỳ thị, bởi vì giả thuyết này cho rằng những nhóm người hay những chủng tộc khác nhau, tiến hóa ở thời điểm khác nhau với những mức độ tiến hóa cũng khác nhau, cho nên có những chủng tộc vẫn còn sơ khai, trí tuệ còn thô thiển và hình dáng nhìn giống như tổ tiên người vượn hơn những chủng tộc khác.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Nếu bạn là một công dân trong một đất nước tự do dân chủ, nhà cầm quyền không đưa ra một danh sách dài liệt kê những điều cấm bạn không được nói, thì bạn thật là một người may mắn.

Bởi vì, cho đến ngày nay, vẫn còn có những nơi trên thế giới, người ta phải đổi lấy mạng sống mà vẫn chưa có được quyền tự do ngôn luận, để được nói lên những nhận định khách quan hay được bày tỏ các cảm nghĩ trung thực của chính mình.

Thế mới biết, lời nói mang một sức mạnh to lớn, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến nỗi có thể lung lay cả quyền lực, cho nên các chế độ chính trị độc tài phải bịt miệng người dân, buộc phải cất đi khỏi họ quyền tự do ngôn luận.

Tuy vậy, nếu bạn đang sống trong một quốc gia tự do và dân chủ, bạn có được quyền tự do ngôn luận, thì phải chăng điều này đồng nghĩa là bạn có quyền “muốn nói gì thì nói”?

Tùng Tri

Previous Kính thưa quý thính giả,

Cách đây hơn 2000 năm, Thượng Đế đã sai Con Một của Ngài giáng trần, trong một con người mang tên Giê-xu. Sứ mạng chính của Chúa Cứu Thế Giê-xu khi đến trần gian này là, chết thay cho tội lỗi của muôn người, trong đó có quý vị và tôi. Sau khi bị chết treo thật đau thương trên cây thập tự, lãnh món nợ tội thế cho nhân loại, Chúa Cứu Thế bị đặt vào mộ đá. Thánh sử cũng ký thuật tiếp, sau ba ngày thì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã phục sinh, đã sống lại từ cõi chết và đi đến với rất nhiều người, trước khi Ngài từ giã họ để trở về trời.

Sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu là nền tảng của niềm tin của những ai tin nhận Ngài.

Vì tất cả chúng ta đều phạm tội với Đấng Tạo Hóa, đáng phải bị chết trong nơi đau khổ đời đời. Dầu biết vậy, chúng ta không ai mà tránh sao cho khỏi phạm tội, vì bản chất ưa phạm tội, đã ăn sâu trong suy nghĩ và thể hiện trong muôn vàn hành vi của chúng ta.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Nữ văn sĩ Hoa Kỳ Flannery O’Connor, trong tác phẩm đầu tay của bà mang tên “Wise Blood”, đã dựng nên một nhân vật thật độc đáo, mang tên Hazel Motes. Khi chỉ mới là một cậu thiếu niên, ngày kia Hazel có một lần theo cha đến tham dự một cuộc hội hè. Vì tò mò, Hazel đã lẻn vào một khu vực vui chơi chỉ dành cho người lớn và chẳng may cậu chứng kiến một số cảnh không thích hợp với lứa tuổi của cậu. Hazel cảm thấy mặc cảm tội lỗi đè nặng trong tâm hồn và cậu nhất quyết phải làm một điều gì đó về chuyện này.

Ngày hôm sau, Hazel lấy ra đôi giày mà cậu ấy đã cất kỹ trong hộp từ bấy lâu nay, rồi đổ vào đôi giầy một mớ sỏi và đá nhọn. Sau đó, Hazel mang giầy vào chân, thắt chặt dây giầy và rồi đi bộ vào sâu trong rừng tới khoảng một dặm, cho đến khi tới một suối nước. Tại đó, Hazel tháo giầy ra, để thả lỏng đôi chân tê buốt trên lớp cát ướt lạnh. Hazel nghĩ rằng mình đã phạm tội và cần phải làm một điều gì đó để làm vừa lòng Thượng Đế. Nhưng hình như chẳng có gì xảy ra cả. Sau khi nghỉ ngơi một hồi lâu, Hazel xỏ chân vào đôi giầy đầy sỏi và đá nhọn bên trong, rồi lê trở lại nhà.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Là một người Việt, quý vị có cảm nghĩ gì khi nhắc đến “đồng đô-la Mỹ”. Khi tôi mới định cư tại nước Úc cách đây trên 20 năm, thì một Úc kim thời đó đổi được trên một đô-la Mỹ. Nhưng sau đó không bao lâu, thì đồng đô-la Mỹ đã vượt qua mặt Úc kim và bây giờ, một Úc kim chỉ đổi ra được dưới 80 xu Mỹ. Nếu là một người Việt định cư tại Mỹ, chắc quý vị rất hài lòng với “mãnh lực” và sự thông dụng của đồng đô-la Mỹ. Đi du lịch hay công việc khắp nơi trên thế giới, mà có mang theo đô-la Mỹ trong túi, thì có cảm giác thật chắc ăn, vì hầu như mọi nơi đều công nhận giá trị của đồng đô-la xanh này. Đối với quý vị tại Việt Nam, thì đồng đô-la Mỹ có giá trị giống như vàng. Làm ăn khấm khá, có chút tiền tiết kiệm được, thay vì mang trong người một mớ tiền Việt vừa cồng kềnh, dễ mất giá, lại dễ rách, thì đồng bào ta thường đổi ra vàng hay đô-la Mỹ mà để dành.

“A Spring Tulip in Frozen Ground” by Gena Bradford – Tùng Trân chuyển ngữ

Khi tôi được hai mươi mốt tuổi, tôi thành hôn với người bạn thân nhất của tôi là Jack. Chúng tôi quen biết nhau trong khuôn viên trường đại học. Tôi yêu Jack vì tính anh ấy hài hước thật có duyên, thật thông minh cộng thêm với cá tính cởi mở và dễ chịu. Bạn bè bầu anh ấy là “hề” của cả lớp chúng tôi. Mà thật vậy, không ngày nào mà anh ấy không trêu chọc khiến tôi phải phát cười đến đau cả bụng. Đó là điểm nổi bật của Jack. Anh ấy còn có đức tính kiên định và thủy chung, là hai mỹ tính tôi quý trọng nhất, bởi vì tôi chẳng may lớn lên trong một gia đình tan vỡ. Tôi đã từng nghĩ rằng, tình yêu của tôi dành cho anh ấy sẽ tồn tại mãi mãi, nhưng lúc đó cả hai chúng tôi còn rất trẻ và tình yêu chúng tôi dành cho nhau dựa trên những điều mong đợi hoàn toàn thiếu thực tế.

Khi chúng tôi đã lập gia đình với nhau đã được bảy năm, tôi chứng kiến tính tình của chồng tôi thay đổi, từ một người đàn ông tự tin và dễ mến, đã trở nên một con người buồn bực, khó khăn và lạ lùng đến độ dường như không ai có thể gần gũi hay chung sống được.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Quý vị và tôi đang đứng trước thềm năm mới. Năm 2015 còn đang mới toanh. Quý vị đang có những dự định nào cho năm mới? Quý vị đang ước mơ gì trong năm nay?

Người Việt chúng ta, theo truyền thống, thường xem trọng ngày đầu năm âm lịch, hay dịp Tết. Đối với người Tây phương, đầu năm dương lịch, hay ngày đầu năm, là một ngày lễ rất quan trọng. Vào ngày năm mới, mọi cơ quan, công ty, dịch vụ đều tạm nghỉ, để mọi người có dịp nghỉ ngơi, họp mặt với gia đình hay bè bạn, cùng đón mừng năm mới và chúc cho nhau một năm mới vui vẻ, một “Happy New Year”.

Đứng trước một năm mới, người ta cũng có thói quen nhìn lại năm qua, thấy mình đôi khi lãng phí thời gian, tiền bạc, biếng nhác, trễ nải, để lỡ qua nhiều cơ hội tốt, nên lương tâm có phần áy náy. Do vậy, trong bầu không khí mới mẻ và phấn khởi của ngày đầu năm, người ta thường đưa ra những lời cam kết đầu năm, những “New Year Resolutions”, hạ quyết tâm bỏ đi những thói hư, tật xấu cũ, hứa hẹn với lòng mình rằng sẽ thay đổi những điều không hay, không tốt trong đời sống, công việc v.v. hầu cho năm mới sẽ vui vẻ, tốt đẹp hơn năm qua.

Tùng Tri lược dịch

PreviousKính thưa quý thính giả,

Trong tuần trước, chúng ta có bàn về một sự kiện lạ lùng là với nền kỹ nghệ tiên tiến, máy móc tự động, năng suất hay hiệu quả được nâng lên đến mức tối ưu. Lẽ ra chúng ta phải có nhiều thời giờ để nghỉ ngơi hay cho gia đình, bạn bè, nhưng thực ra chúng ta càng ngày càng bận rộn hơn, hối hả hơn.

Quý thính giả thân thương,

Phương pháp quản lý thời giờ trong kỹ nghệ nhằm đạt tới hiệu quả cao cũng mang đến những hiệu ứng phụ tiêu cực mà người ta không tiên đoán trước đó.

Tùng Tri lược dịch

NextKính thưa quý thính giả,

Thời giờ theo định nghĩa của một nhà vật lý, là điều giữ cho mọi sự không xảy ra cùng một lúc. Thế nhưng tại sao bạn và tôi lúc nào cũng cảm thấy như nghẹt thở vì thời giờ? Hàng loạt những công chuyện cần phải hoàn tất ngay bây giờ, biết bao công việc còn dang dở, bảng liệt kê các thứ cần thanh toán cứ càng ngày càng dài ra mãi. Khi nào thì bạn và tôi có một ít thời giờ để yên lặng ngắm nhìn cảnh hoàng hôn trên biển vắng bên cạnh người bạn đời thân yêu, hoặc ngồi trước lan can nhà để sưởi nắng và thả hồn theo những vần thơ lãng mạn hay lắng nghe những giai điệu du dương? Có khi nào bạn và tôi có được một ít thời giờ thư nhàn, rãnh rỗi và không bị chuyện này, chuyện kia hối thúc?

Câu trả lời cho các câu hỏi trên có lẽ chỉ đơn giản là “không”. Chưa bao giờ trong lịch sử loài người, con người lại bận rộn trong việc làm và kể cả việc chơi như thời đại ngày nay. Phải kiếm cách để sở hữu thật nhiều và hưởng thụ thật nhiều là tiêu chuẩn sống của xã hội hiện đại.

NextPrevious

Phát Thanh Hy Vọng

Kính thưa quý thính giả,

Ngay sau khi thủy tổ của loài người là A-đam và Ê-va bị sa ngã và phạm tội, Thiên Chúa đã lập tức phác họa chương trình cứu rỗi, khi Ngài tuyên bố với con rắn nham hiểm rằng: “Ta sẽ làm cho mầy và người nữ, dòng dõi mầy và dòng dõi người nữ thù nghịch nhau. Người ấy sẽ chà đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân Người” (Sáng Thế Ký 3:15).

Thiên Chúa đã dấy lên dân tộc Israel và sắp đặt chương trình cứu chuộc cho cả nhân loại qua tuyển dân này. Trải qua nhiều thời đại, Ngài đã liên tiếp gởi các sứ giả và tiên tri đến với dân Israel, để loan báo về sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế. Có hơn ba trăm lời dự ngôn về Chúa Giê-xu được ghi bằng tiếng Hê-bơ-rơ trong Kinh Thánh Cựu Ước. Bảy trăm năm mươi năm trước khi hài nhi Giê-xu hạ sinh, tiên tri Ê-sai đã báo trước: “Chính Chúa sẽ cho một dấu lạ: Này, một trinh nữ sẽ chịu thai, sinh một con trai” (Ê-sai 7:14) và tiên tri Mi-chê loan tin về nơi chốn giáng sinh cùng với gốc tích thượng thiên của Con Trời: “Hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-ta, ngươi thật nhỏ trong các chi tộc của Giu-đa, nhưng từ nơi ngươi sẽ xuất hiện một Người… gốc tích Người từ thuở trước, từ những ngày xa xưa” (Mi-ca 5:2)


Next

Phát Thanh Hy Vọng

Kính thưa quý thính giả,

Mười hai tháng bận rộn của một năm sắp qua đi, mùa Giáng Sinh lại về một lần nữa, mang đến cho chúng ta những cảm giác thật xao xuyến khó tả. Mùa Giáng Sinh với những cuộc họp mặt, bên cạnh người thân hay bè bạn, để trao nhau những nụ cười và mở những món quà giáng sinh gói trọn cả tấm lòng. Mùa Giáng Sinh với những bài thánh ca êm đềm, thánh thoát, đưa tâm hồn chúng ta rời xa những lao xao trong hiện tại, đem chúng ta trở về một miền trời xa vắng, tĩnh mịch của tiểu thôn Bết-lê-hem đêm nào. Mùa Giáng Sinh với đèn sao lấp lánh, với hình ảnh của chàng Giô-sép mộc mạc, nàng trinh nữ Ma-ri hiền hòa và hài nhi Giê-xu ngây thơ nằm trong máng cỏ, như muốn nhắc nhở cho chúng ta một sự kiện huyền diệu nhất trong dòng lịch sử nhân loại.


NextPrevious

“Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-ên, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” (Ma-thi-ơ 1:23)

Kính thưa quý thính giả,

Thiên Chúa dựng nên hai người đầu tiên là A-đam và Ê-va. Mối liên hệ mật thiết giữa A-đam, Ê-va và Thiên Chúa kéo dài được một thời gian, rồi sau đó đã bị gãy đổ một cách đớn đau. Quỷ vương, cũng là một tạo vật của Thiên Chúa, là một lực lượng thần linh, đầy kiêu ngạo, lắm mưu mô và nhiều tham vọng, lúc nào cũng muốn tiến chiếm quyền tối thượng của Thiên Chúa, đã ra sức dụ dỗ A-đam và Ê-va bất tuân Ngài. Quỷ vương, đã đội lốt con rắn trong vườn Ê-đen năm xưa, dùng món đòn xảo quyệt, hứa hẹn tri thức, khôn ngoan và ngôi vị vinh hiển ngang hàng với Thiên Chúa, để làm mềm lòng A-đam và Ê-va. Thủy tổ của loài người, trong giây phút yếu lòng, đã quyết định bất tuân Thiên Chúa để chạy theo những tham vọng giả dối của Quỷ Vương. Kinh Thánh định nghĩa thái độ hay hành động không vâng lời, có ý chống nghịch lại Thiên Chúa là tội lỗi.

Chính A-đam và Ê-va đã đem mầm mống tội lỗi vào trong nhân loại. Trong khi Thiên Chúa sáng tạo sự sống và xây dựng tình thân, thì tội lỗi dẫn đưa đến cái chết về thể xác, bẻ gãy mối quan hệ, đẩy con người xuống hàng tội nhân và buộc con người phải chịu sự phán xét của Đấng Tối Cao đúng như lời Kinh Thánh đã khẳng định: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét.” (Hê-bơ-rơ 9:27).

Next

“Con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến,
Phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?”
(Thi Thiên 8:5)

Kính thưa quý thính giả,

Chúng ta đang bước vào mùa Giáng Sinh. Bạn đang có những cảm nghĩ gì khi nhắc đến hai chữ Giáng Sinh hay Noel? Bạn có những kỷ niệm vui buồn nào với mùa Giáng Sinh không?

Là một người Việt xa quê hương, hai chữ Giáng Sinh thường gợi nhớ trong tôi những ngày cuối năm, trời Sài gòn bỗng trở lạnh một đôi chút, để tôi có thể mặc chiếc áo len rất ít khi mặc trong năm, rồi bước ra đường, hòa cùng đoàn người đông đảo ngoài đường phố. Đêm Giáng Sinh ở Sài gòn năm xưa thường rất tấp nập, ồn ào và lúc nào cũng kẹt xe. Có những người đi nhà thờ dự lễ Giáng Sinh. Có nhiều người thích đi nghe ca đoàn nhà thờ trình bày những bài thánh ca Giáng Sinh thật du dương và thánh thoát. Có những người bị cuốn hút bởi những đèn đuốc, cây thông hay các trưng bày Giáng Sinh trước các sân nhà thờ hay các cửa tiệm lớn. Hình ảnh chuồng chiên, với máng cỏ, tượng ông Giô-sép, bà Ma-ri, Chúa Hài Đồng, thiên sứ, các gã chăn chiên đơn sơ và ba vua với lễ phục thật trang trọng, đầy màu sắc, hòa trong bài nhạc Giáng Sinh quen thuộc “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời, nằm trong hang tối, nơi máng lừa” là những kỷ niệm thời niên thiếu của tôi về Giáng Sinh.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Có rất nhiều người nghĩ rằng Kinh Thánh là quyển sách của các bậc anh hùng, chỉ đề cao các đấng vĩ nhân; là quyển sách chỉ ca ngợi những nhân vật siêu đạo đức, chỉ kể về những con người toàn thiện thánh khiết, không bao giờ biết sa ngã và luôn luôn chỉ làm điều đúng, điều lành.

Sự thật thì hoàn toàn ngược lại!

Kinh Thánh ký thuật lại cuộc đời thật của nhiều con người cũng rất “người” như đa số chúng ta; lắm lúc sa ngã, có nhiều vấp phạm; thậm chí có vài nhân vật dường như “vô phương cứu chữa”, chẳng có “tia hy vọng nào”. Tuy vậy, trong tình yêu bao la và ân sủng dồi dào, Thiên Chúa đã biến đổi những con người dường như vô vọng đó trở nên những con người lành, những bậc thánh nhân, để đem đến biết bao phước hạnh, an ủi và hy vọng cho vô số người khác.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Thái độ kêu ca phàn nàn luôn đưa đến những hậu quả tai hại. Quy luật bất biến của Thiên Chúa là “hễ ai ưa phàn nán oán trách thì đời sống sẽ cằn cỗi, khô hạn như trong sa mạc”.

Ngược với thái độ kêu ca phàn nàn là thái độ biết ơn. Sách Lu-ca chương 17 trong Kinh Thánh có chép lại một câu chuyện như thế này:

“Một ngày kia, Chúa Giê-xu đang lên Giê-ru-sa-lem, đi ngang qua Sa-ma-ri và Ga-li-lê. Khi vào làng kia, có mười người phung đón Ngài, đứng đằng xa, cất tiếng nói rằng: “Giê-xu ơi, hỡi thầy, xin thương xót chúng tôi cùng.” Khi Ngài thấy họ, liền phán rằng: “Hãy đi, tỏ mình cùng thầy tế lễ.”

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Ngôn ngữ, phổ biến nhất là qua tiếng nói, là yếu tố quan trọng hàng đầu để tách biệt loài người với tất cả các động vật khác. Chỉ duy con người mới có ngôn ngữ hoàn chỉnh, để diễn tả mọi ý tưởng, mọi cảm xúc; có thể mô tả các sự vật hiển nhiên trước mắt hay diễn tả các ý niệm trừu tượng sâu sắc; có thể đề cập đến các vấn đề thuộc về quá khứ, các sự kiện trong hiện tại hay các điều trong tương lai chưa thực sự xảy ra.

Các nhà khoa học thí nghiệm trên các thú vật và các loài chim, dạy chúng đáp ứng lại với một vài tiếng nói đơn giản. Thí dụ như loài vượn, sau khi được huấn luyện, có thể sử dụng một vài điệu bộ hay cử chỉ để diễn tả một vài cảm xúc của chúng. Nhưng khả năng diễn tả cảm xúc bằng một vài dấu hiệu đơn giản của loài vượn hay loài chim còn quá đơn giản, không thể nào so sánh được với khả năng ngôn ngữ diệu kỳ của con người.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Cách đây hơn hai ngàn năm, Chúa Giê-xu có kể một câu chuyện ngắn về một đứa con trai ngỗ nghịch hoang đàng. Câu chuyện ngắn này đã đi vào kho tàng văn chương của nhân loại, được đánh giá là câu chuyện ngắn hay nhất từ trước đến nay.

Các đại văn hào, như William Shakespeare hay Garrison Keillor, đã bày tỏ lòng cảm phục trước câu chuyện này, tuy thật ngắn nhưng lại đầy đủ các chi tiết thật sinh động, để kết nên một bức tranh thật cảm động, làm thổn thức bao trái tim và tâm hồn qua nhiều thế hệ.

Câu chuyện ngắn này được ghi lại trong sách Tin Lành Lu-ca chương 15. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã bắt đầu câu chuyện ngắn đó như thế này: