Ngọc Diệp

Quý thính giả thân mến,

Không biết quý bà trong gia đình thường làm gì trước giờ đi ngủ, riêng phần chúng tôi, thì cứ loay hoay với đủ thứ công việc không tên cho đến lúc thật sự bước lên giường. Cũng vì thế, mà tôi cảm thấy hết sức thấm thía khi đọc mẩu chuyện như sau.

Bố và mẹ ngồi xem TV được một lúc thì mẹ nói, “Em mệt rồi, và cũng đã hơi khuya. Vậy em đi ngủ trước nghe.”

Mẹ rời phòng xem TV và bước vào bếp để làm bánh mì sandwich cho bữa ăn trưa ngày mai.

Sau đó, mẹ rửa tô đựng pop corn. Tiếp đó, mẹ lấy thịt trong tủ đá ra và đặt vào ngăn xả đá trong tủ lạnh để sẵn sàng cho việc nấu bữa ăn chiều mai. Mẹ xem lại hộp đựng cereal ngũ cốc còn nhiều hay ít, đổ thêm đường vào hũ đường đã vơi, rồi đặt tô muỗng lên bàn ăn để sẵn sàng cho bữa điểm tâm sáng mai.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Cho đến cuối thế kỷ 19, việc sinh nở cũng còn gặp nhiều may rủi lắm. Khi một đứa bé chào đời, dù cả hai mẹ con đều khỏe mạnh “mẹ tròn con vuông”, tuy vậy người mẹ vẫn nằm trong tình trạng rủi ro rất cao vì có thể bị nhiễm khuẩn hậu sản. Mà lạ lùng là hình như tình trạng rủi ro bị nhiễm khuẩn lên cao nhất, không phải là khi người mẹ có một “bà mụ” hay một cô y tá kề cận chăm sóc, nhưng khi có một bác sĩ đến thăm. Trong cuối thế kỷ 19, trong một số bệnh viện, cứ hễ trong bốn bà mẹ là một người bị chết vì bị nhiễm khuẩn sau khi sinh con.

Tuy vậy, trong khoảng thời gian này, tại Hung gia lợi, có một vị bác sĩ sản khoa tên là Philip Ignaz Semmelweis, mà các bà mẹ được ông chăm sóc, lại có xác suất khỏe mạnh và sống sót cao nhất. Bảng tổng kết cho biết chỉ có khoảng 8 bà mẹ trong 1000 bà mẹ được bác sĩ Philip chăm sóc là bị rủi ro chết vì nhiễm khuẩn hậu sản, tức là chỉ có 1% bị rủi ro, khi so với xác suất rất phổ biến thời bấy giờ là 25%.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Trong những tuần vừa qua, chúng ta có dịp tìm hiểu một số bằng chứng lịch sử, ghi đậm dấu ấn sự kiện phục sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Thánh sử có ký thuật lại, Chúa Cứu Thế Giê-xu, hay chính là Thiên Chúa Ngôi Hai trong thân xác con người, sau khi bị đóng đinh cho đến chết trên cây thập tự, đền nợ tội thay cho muôn người, Ngài đã bị chôn vào trong mộ đá. Chúa Cứu Thế đã không chết luôn, nhưng sau ba ngày, Ngài đã phục sinh sống lại và đi đến với rất nhiều người.

Sự kiện phục sinh của con người mang tên Giê-xu đã gây ra những chấn động dữ dội trong lịch sử. Những môn đệ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, khi thấy Thầy mình bị người ta xử tử thật thê lương, rất sợ hãi và vô cùng hoang mang, nhưng sau khi tận mặt gặp lại Cứu Chúa phục sinh, đã trở lại tin tưởng trọn vẹn. Từ khiếp sợ và lẫn trốn, các môn đệ này đã trở nên vô cùng can đảm, công khai loan báo cho cả thế giới về tin vui phục sinh này, cho dù họ phải chịu hiểm nguy, bị bắt bớ, bị đòn roi, bị tra tấn và bị xử tử thật dã man.

Tùng Tri

Previous Kính thưa quý thính giả,

Cách đây hơn 2000 năm, Thượng Đế đã sai Con Một của Ngài giáng trần, trong một con người mang tên Giê-xu. Sứ mạng chính của Chúa Cứu Thế Giê-xu khi đến trần gian này là, chết thay cho tội lỗi của muôn người, trong đó có quý vị và tôi. Sau khi bị chết treo thật đau thương trên cây thập tự, lãnh món nợ tội thế cho nhân loại, Chúa Cứu Thế bị đặt vào mộ đá. Thánh sử cũng ký thuật tiếp, sau ba ngày thì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã phục sinh, đã sống lại từ cõi chết và đi đến với rất nhiều người, trước khi Ngài từ giã họ để trở về trời.

Sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu là nền tảng của niềm tin của những ai tin nhận Ngài.

Vì tất cả chúng ta đều phạm tội với Đấng Tạo Hóa, đáng phải bị chết trong nơi đau khổ đời đời. Dầu biết vậy, chúng ta không ai mà tránh sao cho khỏi phạm tội, vì bản chất ưa phạm tội, đã ăn sâu trong suy nghĩ và thể hiện trong muôn vàn hành vi của chúng ta.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Chết là nỗi sợ hãi lớn nhất trong tất cả những nỗi sợ hãi của con người. Có ai trong chúng ta mà không sợ chết? Có ai trong chúng ta mà không khiếp sợ khi phải bước vào cõi đời đời kéo dài đến vô tận? Có ai trong quý vị và tôi không khỏi lo âu về số phận đời đời của mình sẽ ra sao sau cái chết?

Sở dĩ ai trong chúng ta cũng chết, vì tất cả mọi người đều phạm tội với Trời, đáng bị chết, theo như luật công bằng của Đấng Tạo Hóa, đã được bày tỏ rằng: “Ai phạm tội, kẻ ấy phải chết” (Ê-xê-chi-ên 18:4)

Bên cạnh luật công bằng bất di bất dịch, Kinh Thánh, và chỉ duy Kinh Thánh, cũng bày tỏ về lời hứa của Thượng Đế, đem con người từ cõi chết trở lại sự sống, như tiên tri Đa-ni-ên được cho thấy trước rằng: “Tất cả những người đã có tên ghi trong Sách Sự Sống đều sẽ được giải cứu. Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì được sống đời đời, kẻ thì chịu tủi hổ, sỉ nhục đời đời” (Đa-ni-ên 12:1-2)

Phát Thanh Hy Vọng
Previous

Kính thưa quý thính giả,

Có một câu chuyện kể lại rằng, trong một trận cháy rừng thật dữ dội kia, toán lính cứu hỏa đã tỏ ra thật can đảm và kiên cường, làm việc không ngừng nghỉ cho đến khi mọi đốm lửa đã hoàn toàn bị dập tắt. Khi toán lính cứu hỏa này tiến vào vùng đất đã bị cháy rụi đen ngòm, còn phảng phất những làn khói dật dờ từ các đống tro tàn âm ỉ, họ chợt nhận ra một khối u thật lớn trên con đường mòn.

Khi tiến lại khối u đó, họ chợt nhận ra đó là xác của một con chim thật lớn, mà hơn một nửa cơ thể của nó đã bị cháy thành than. Các loài chim to lớn như thế này thì có thể bay thật nhanh, thoát thật dễ dàng khỏi đám cháy thật đang lan dần tới. Điều này khiến cho toán lính cứu hỏa này rất thắc mắc, có chuyện gì trục trặc khiến con chim to lớn này không thể bay thoát đi khỏi đám cháy. Có phải nó bị thương hay bị bệnh chăng?

Phát Thanh Hy Vọng

Kính thưa quý thính giả,

Lãnh thổ bao la của đế quốc Nga ngày nay, vào những ngày hoang dã xa xưa, là vùng đất có rất nhiều bộ lạc tranh giành và chiếm đóng. Những bộ lạc nào chiếm đóng được vùng đất săn bắn tốt, có nhiều thú rừng, đất đai mầu mỡ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, thường là những bộ lạc hùng mạnh nhất, có được người tù trưởng khỏe mạnh, dũng cảm và đầy ngôn khoan hướng dẫn cả bộ lạc.

Có một câu chuyện kể lại rằng một bộ lạc hùng mạnh kia, mà bí quyết thành công của bộ lạc đó, phần lớn, nhờ vào sự công bằng và đầy khôn ngoan trong những luật lệ của bộ lạc đó, do chính vị tù trưởng đầy khôn ngoan thiết lập và bắt buộc mọi người phải nghiêm chỉnh thi hành.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Ai trong chúng ta cũng yêu mến người khiêm nhường và kiếm cách tránh né kẻ kiêu ngạo.

Ai trong chúng ta cũng công nhận rằng để trở nên khiêm nhường không phải là một chuyện dễ dàng, không phải là một chuyện có thể làm được chỉ trong một sớm một chiều.

Và ai trong chúng ta cũng có lần bối rối, có lần thắc mắc, thế nào là khiêm nhường đúng nghĩa.

Có người diễn tả về sự khó hiểu của bản tính khiêm nhường như vầy:

“Đức tính khiêm nhường là một điều thật lạ lùng. Ngay giây phút bạn nghĩ bạn đã đạt được nó, thì cũng ngay giây phút đó, bạn đã đánh mất nó”.

Có một số người hiểu lầm, cho rằng khiêm nhường có nghĩa là xem mình là thấp kém, là không đáng kể, cho mình chỉ là “cái thảm chà chân” để mọi người khác dẫm lên trên. Nếu có một người luôn miệng nói rằng: “Ôi, tôi chẳng là ai cả. Đừng quá quan tâm tới tôi”, thì người này, thoạt tiên chúng ta tưởng như một người khiêm nhường, nhưng thực ra, đây là một người kiêu ngạo ngầm bên trong.

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Nữ văn sĩ Hoa Kỳ Flannery O’Connor, trong tác phẩm đầu tay của bà mang tên “Wise Blood”, đã dựng nên một nhân vật thật độc đáo, mang tên Hazel Motes. Khi chỉ mới là một cậu thiếu niên, ngày kia Hazel có một lần theo cha đến tham dự một cuộc hội hè. Vì tò mò, Hazel đã lẻn vào một khu vực vui chơi chỉ dành cho người lớn và chẳng may cậu chứng kiến một số cảnh không thích hợp với lứa tuổi của cậu. Hazel cảm thấy mặc cảm tội lỗi đè nặng trong tâm hồn và cậu nhất quyết phải làm một điều gì đó về chuyện này.

Ngày hôm sau, Hazel lấy ra đôi giày mà cậu ấy đã cất kỹ trong hộp từ bấy lâu nay, rồi đổ vào đôi giầy một mớ sỏi và đá nhọn. Sau đó, Hazel mang giầy vào chân, thắt chặt dây giầy và rồi đi bộ vào sâu trong rừng tới khoảng một dặm, cho đến khi tới một suối nước. Tại đó, Hazel tháo giầy ra, để thả lỏng đôi chân tê buốt trên lớp cát ướt lạnh. Hazel nghĩ rằng mình đã phạm tội và cần phải làm một điều gì đó để làm vừa lòng Thượng Đế. Nhưng hình như chẳng có gì xảy ra cả. Sau khi nghỉ ngơi một hồi lâu, Hazel xỏ chân vào đôi giầy đầy sỏi và đá nhọn bên trong, rồi lê trở lại nhà.

“When Sara Taught Me Freedom” by Nancy Page Sheek - Tùng Trân chuyển ngữ

Hồi còn nhỏ, tôi được nhiều người thương lắm, nhưng tôi thật là được phước vì bà ngoại tôi thương tôi theo kiểu rất khác với những người kia. Hầu hết những mối quan hệ trong cuộc đời tôi gói trọn trong một số quy luật mà tôi tự đặt ra hay tôi hiển nhiên chấp nhận mà không hề thắc mắc. Những quy luật này cũng dễ theo mà cũng hoàn toàn hữu lý. Đó là nếu có người thương yêu tôi, như vậy là tôi thật đáng yêu. Nếu tôi làm vừa lòng ai, tôi cảm thấy mãn nguyện. Nếu tôi làm phiền lòng ai, thì người đó có quyền buồn phiền về tôi.

Nhưng đó không là tình thương mà bà ngoại tôi dành cho tôi. Tôi biết bà thương tôi bởi vì bà thường xuyên nói với tôi là bà thương tôi, bởi vì bà bày tỏ tình thương đó trong mỗi lần bà cháu gần bên nhau, và bởi vì khi tôi đổ tháo vụng về, bà vẫn quý mến tôi. Đối với bà, tôi được hiển nhiên chấp nhận mà không bị yêu cầu phải đạt tới một tiêu chuẩn nào hay bị đòi hỏi một điều khoản đặc biệt nào, và do vậy, mà tôi không cần phải ra sức để làm bà hài lòng hay phải cố công để làm bà thương. Dưới ánh mắt của ngoại tôi, tôi hiển nhiên là niềm vui của bà. Do vậy, mà tôi cũng thương lại bà ngoại của tôi một cách thật tự nhiên và thật dễ dàng.

Ngọc Diệp

Quý thính giả thân mến,

Đầu năm dương lịch, gia đình chúng tôi có dịp gặp lại vài người bạn học thời trung học và đại học. Vì cũng học với nhau suốt thời niên thiếu ở trung học, lại cùng nhau trải qua nhiều ngày tháng học chung với nhau, mà chúng tôi gọi đùa là thời gian “mài đủng quần” trên những băng ghế ở thư viện và giảng đường đại học, nên chúng tôi rất thân nhau. Thậm chí, có thể nói, chúng tôi thân nhau chẳng khác chi anh, chị em ruột thịt.

Có lẽ quý thính giả cũng đồng ý, rằng nhiều khi có những điều thầm kín trong tâm tư và cuộc sống mà chúng ta không thể tâm sự với anh chị em ruột hay cha mẹ của mình, nhưng lại có thể chia sẻ tâm sự dễ dàng hơn với những người bạn thân. Thời mới lớn, chúng tôi có khi đổ nước mắt khóc trên vai nhau vì những cuộc tình thơ mộng tuổi học trò vừa chớm nở đã phai tàn, vì những mong ước trong đời không thành tựu như lòng hằng ao ước. Cũng có khi chỉ vì bị cha mẹ mắng oan một việc gì đó, hoặc nhận được một tin vui nho nhỏ, hay có món quà bất ngờ từ ngoại quốc gởi về, thế là chúng tôi lại có dịp tìm đến nhau để trút đó những tâm sự vui buồn. Mà như thế đã hết đâu, mỗi lần tụ họp lại là chúng tôi lại có dịp cùng nhau thanh toán nhưng gói ô mai thơm mùi cam thảo và vỏ quít, bịch xí muội mặn mà chua chua ngọt ngọt, những trái cóc dầm, xoài tượng chấm nước mắm đường, ổi xá lỵ, me xanh và mận đào chấm muối ớt.

Phát Thanh Hy Vọng

Nhân vật:

Trâm (còn gọi là chị Hai), có chồng, với hai con đang học trung học.

Lan, em của Trâm, theo chị vượt biên, đến Úc lúc còn nhỏ (nên nói tiếng Việt không hoàn toàn thành thạo), đã trưởng thành và đang đi làm.

Ông Bà Sáu, người cùng quê với chị em Trâm và Lan.

Khung cảnh:

Ngày 23 tháng chạp, sắp gần Tết, tại Úc Đại Lợi.

Màn 1

Tại nhà Trâm, chồng và các con đi vắng, chỉ có một mình Trâm ở nhà, đang bận bịu nấu nướng để chuẩn bị đưa Ông Táo về trời.

Tiếng nhạc xuân văng vẳng…

Trâm (than vắn thở dài): Năm sắp hết, tết sắp đến, bao nhiêu chuyện phải lo trong nhà. Hôm nay là 23 tháng chạp rồi, phải đưa ông Táo về trời. Dzậy mà, thiệt tình à nghen, chồng thì phải đi làm xa, còn con cái, bạn bè rủ rê đi chơi hết rồi. Hứ! Xúm rủ đi đâu hết trơn rồi, chỉ có mình tui lo hết, từ đầu đến chân. Làng xóm ơi, rầu ơi là rầu… Chồng với con gì mà chẳng giúp tui được cái tích sự gì hết!

Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu trong năm 2009 vừa qua đã ảnh hưởng đến công ăn việc làm của thật nhiều người trong chúng ta.

Vào tháng mười một năm ngoái, tại Hoa Kỳ, cuộc khủng hoảng tài chánh này đã nâng tỷ số người thất nghiệp lên tới 10%, tức là gần gấp đôi tỷ số người thất nghiệp vào cuối năm 2007. Như vậy là vào cuối năm qua, chỉ tại Hoa Kỳ, có khoảng hơn 15 triệu người bị rơi vào tình trạng không có công ăn việc làm. Trong ba tháng cuối năm 2009, trung bình cứ mỗi tháng, có khoảng 135 ngàn người bị mất việc tại xứ sở giàu có văn minh bậc nhất này.

Cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu này cũng đã nâng tỷ số thất nghiệp tại Âu Châu thật cao, với khoảng 7.9% tại Anh và 8.1% tại Đức.

Phỏng vấn anh Nam Quốc Trung

Kính thưa quý thính giả,

Trong hai lần phát thanh đầu năm 2010 vừa qua, chúng tôi đã gởi đến quý vị lời tự thuật của một thanh niên mang tên Nam Quốc Trung qua hai tựa đề Tôi Nghiện Ma TúyLàm Sao Tôi Thoát Khỏi Ma Túy.

Trong tuần qua, chúng tôi đã gởi đến quý vị phần đầu cuộc phỏng vấn của Mục sư Ngô Minh Quang với Nam Quốc Trung trong lần anh viếng thăm Úc Châu vào cuối năm 2009 vừa rồi, qua tựa đề Từ Ma Túy Đến Tự Do ThậtTình Yêu Mạnh Hơn Ma Túy

Trong tuần này, chúng tôi xin gởi đến quý vị phần kết của cuộc phỏng vấn với Nam Quốc Trung, qua tựa đề “Từ Ma Túy Đến Thánh Nhân”.

Xin trân trọng kính mời quý vị cùng theo dõi.

Phỏng vấn anh Nam Quốc Trung

Kính thưa quý thính giả,

Trong hai lần phát thanh đầu năm 2010 vừa qua, chúng tôi đã gởi đến quý vị lời tự thuật của một thanh niên mang tên Nam Quốc Trung qua hai tựa đề Tôi Nghiện Ma TúyLàm Sao Tôi Thoát Khỏi Ma Túy.

Trong tuần qua, chúng tôi đã gởi đến quý vị phần đầu cuộc phỏng vấn của Mục sư Ngô Minh Quang với Nam Quốc Trung trong lần anh viếng thăm Úc Châu vào cuối năm 2009 vừa rồi, qua tựa đề Từ Ma Túy Đến Tự Do Thật.

Trong tuần này, chúng tôi xin gởi đến quý vị phần thứ nhì của cuộc phỏng vấn với Nam Quốc Trung, qua tựa đề “Tình Yêu Mạnh Hơn Ma Túy”.

Xin trân trọng kính mời quý vị cùng theo dõi.

Phỏng vấn anh Nam Quốc Trung

Kính thưa quý thính giả,

Trong hai lần phát thanh vừa qua, chúng tôi đã gởi đến quý vị lời tự thuật của một thanh niên mang tên Nam Quốc Trung qua hai tựa đề Tôi Nghiện Ma TúyLàm Sao Tôi Thoát Khỏi Ma Túy.

Thể theo lời yêu cầu của quý thính giả, chúng tôi xin gởi đến quý vị cuộc phỏng vấn của Mục Sư Ngô Minh Quang với anh Nam Quốc Trung, trong lần anh đến thăm Úc Châu vào cuối năm 2009.

Xin trân trọng kính mời quý vị theo dõi.

Nam Quốc Trung:

Cũng như hôm trước, qua lời làm chứng, Trung có chia sẻ với quý vị tại đây. Trung biết ơn Chúa vô cùng, bởi vì trong những công việc Chúa làm ở Việt Nam, ngay từ khi Trung tin Chúa và được kinh nghiệm một đời sống tái sanh sau hai tháng.

Một tháng sau đó, Chúa có ấn chứng trong lòng của Trung về lời kêu gọi để dâng tài sản của mình cho Chúa và công việc của Chúa tại miền Bắc. Ngay từ tháng thứ ba đó, thì Chúa đã ấn chứng điều này trong tấm lòng của Trung. Một điều vô cùng kỳ diệu là khi Trung về nhà, chia sẻ điều này với gia đình, thì dường như Chúa đồng thời cũng đặt để cái khải tượng đó trong lòng của mẹ Trung và cả hai mẹ con đều cùng cưu mang cái khải tượng đó.

Nam Quốc Trung tự thuật, Tùng Tri ghi lại
(Mời quý vị đọc bài đầu tiên nơi đây)

Nhưng trong cái cơn khốn cùng và tuyệt vọng đó, ngay kể cả trong cái đáy sâu thẳm của cuộc đời tôi, cái trũng đen tối nhất của cuộc đời tôi, thì ở bên trong sâu thẳm trong tấm lòng của tôi đây, vẫn có một tiếng kêu gào lên thật lớn rằng: “Có ai đó không? Xin hãy cứu lấy tôi với. Tôi không muốn sống một cuộc đời như vậy!”

Như lời của Kinh Thánh có chép rằng: “Thật khốn nạn cho tôi! Ai có thể cứu tôi khỏi thân thể hay chết này?” (Rô-ma 7:24), thật vậy đã có một Đấng nghe những điều đó và trong một ngày tôi đang lang thang trong tội lỗi, tôi đã gặp một người bạn. Tôi không hề có bạn tốt, vì tất cả những bạn tốt đã xa lánh tôi. Người bạn này là người bạn nghiện với tôi, và rất nhiều lần đã đi ăn cắp cùng với tôi nữa. Anh gặp tôi và nói rằng anh tin Chúa Giê-xu. Anh không còn ăn cắp nữa, không còn nghiện thuốc nữa. Tôi không bị bắt phục bởi lời nói của con người đó, nhưng cái điều bắt phục tôi tin nhận Chúa Giê-xu vào ngày hôm đó, chính là cái sự sáng ngời trên khuôn mặt của con người đó. Trong gần hai mươi năm tôi chơi với con người đó, chưa bao giờ và chưa có một lần nào, tôi nhìn thấy trên khuôn mặt của con người đó có một sự ngời sáng đến như vậy. Chính cái sự ngời sáng đó đã bắt phục tôi để tôi tin nhận Chúa Giê-xu.

Nam Quốc Trung tự thuật, Tùng Tri ghi lại

Tôi biết ơn Chúa vô cùng bởi lời kêu gọi của Ngài trên cuộc đời của tôi. Ngay trong cả giây phút này đây, trong mỗi một ngày, tôi đọc lại lời kêu gọi của Chúa, tôi biết ơn Chúa vô cùng. Lời của Chúa được chép trong sách Ê-xê-chi-ên đoạn 33 câu 11 rằng: “Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi khá xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết?”.

Thật tôi biết ơn Chúa vô cùng. Ngàn lần, tôi muốn gào lên thật to rằng: “Đức Chúa Trời ơi, Ngài là ai, con là gì mà Ngài đoái đến con?” Chỉ bởi Ngài không muốn tôi phải chết. Ngài không muốn tôi chìm đắm trong tội lỗi của tôi, mà Ngài đã phải xuống thế gian này, chịu chết để cho tôi được sống. Thật tôi không xứng đáng trước mặt Ngài.

Tôi xin thưa với quý vị một điều rằng, nếu có một tòa án nào đó của con người, mà lôi tôi ra xét xử, thì tôi không chỉ nhận lãnh một án tử hình thôi đâu, nhưng vài cái án tử hình sẽ được thực thi trên cuộc đời của tôi rồi.

“God With Us” by Patty Kirk - Tùng Trân tóm lược và chuyển ngữ

Năm cuối sắp tốt nghiệp, vào tuần lễ cuối cùng của học kỳ mùa thu, tôi bị hai tên côn đồ dí súng vào mặt tôi. Sau khi thực hiện các hành động xâm phạm trên thân thể tôi, hai tên côn đồ này còn giựt cái túi đựng sách vở của tôi và biến mất vào trong đêm tối. Đó cũng chính là giây phút quyết định cho đời sống tâm linh của tôi, cũng là lần chạm trán trực tiếp đầu tiên của tôi với những tai họa và tội ác - và điều này chỉ đẩy tôi trở nên vô thần hơn, là điều mà tôi không muốn, nhưng giờ đây thật là hiển nhiên, vì Thượng Đế, Đấng mà tôi tin rằng đã lắng nghe lời cầu nguyện của tôi khi tôi còn bé xíu, giờ đây Ngài đã hoàn toàn tan biến khỏi cuộc đời tôi. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa tại sao tôi không thể thấy được, nghe được và cũng chẳng có thể sờ được đến Ngài. Thượng Đế rõ ràng là không có hiện hữu.

Hai tên côn đồ, khi cướp cái túi đựng sách vở của tôi, bọn chúng đã có trong tay chìa khóa nhà tôi ở, cùng với những giấy tờ cá nhân, khiến tôi không dám trở về nhà trong mấy tuần lễ liền, nhưng phải nương náu nơi nhà một người bạn, cho đến khi tôi nhờ được người tới thay ổ khóa mới cũng như đặt chấn song cho các cửa sổ. Tôi không dám đi ra khỏi nhà đến nửa bước vì khiếp sợ. Nhưng tôi phải đi đến lớp - ba lớp tôi đang phụ trách giảng dạy và hai lớp tôi đang theo học. Do vậy, mặc dầu sống trong lo sợ mỗi ngày, tôi buộc mình phải trở lại với công việc bận rộn của đời sống.

Phát Thanh Hy Vọng

Kính thưa quý thính giả,

Vào ngày 25 tháng 4 năm 2006, mỏ vàng tại vùng Beasconfield, thuộc đảo Tasmania, Úc Đại Lợi bị sụp đổ. Mười bốn người thoát kịp, một người bị chết và hai người bị kẹt lại dưới mỏ. Hai người công nhân bị kẹt lại dưới mỏ với độ sâu khoảng 1000 thước, hoàn toàn bị động, chỉ biết chờ đợi toán cấp cứu tới cứu mình. Toán cấp cứu đã làm việc thật cẩn thận để không gây thêm sụp lở, có thể chôn vùi hy vọng cứu sống hai người bị kẹt dưới mỏ sâu.

Cuối cùng, vào ngày 9 tháng năm 2006, toán cấp cứu đã xuống được đến nơi. Hai người thợ mỏ bị kẹt, sau hai tuần lễ mong chờ, ngóng đợi với bao hồi hộp lo âu, đã la lên rằng: “Chúng tôi đã thấy đèn của các anh”.

Có bao giờ quý vị và các bạn bị chôn chặt vào một tình trạng tuyệt vọng, chỉ mong chờ một sự cứu giúp và cuối cùng, tia ánh sáng hy vọng đã thực sự đến với bạn sau bao mong chờ ngóng đợi.