Mục sư Tiến sĩ Ngô Minh Quang

Ca dao nước Việt Nam ta có câu:

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng
Có bát cơm đầy nhớ đến nhà nông
Ăn cơm nhớ kẻ đâm, xay, giã, sàng

Ăn quả nhớ kẻ làm vườn
Uống nước phải nhớ nước nguồn chảy ra
Đường đi cách bến cách sông
Muốn qua đường nước nhớ ông lái đò

Đứt tay một chút còn đau
Huống chi nhân nghĩa lìa sao cho đành
Những ai phụ nghĩa quên ơn,
Dầu đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm.

Khi còn bé, chúng ta được cha mẹ dạy bài học đầu đời là lòng biết ơn, biết nói lời cám ơn với người đã cho mình vật gì. Khi bước vào học đường, chúng ta được thầy cô dạy về lòng biết ơn đối với cha mẹ, người đã sinh thành mình, yêu thương mình. Chúng ta được dạy biết ơn thầy cô giáo đã đem bầu nhiệt huyết dạy dỗ mình, truyền đạt kiến thức cho mình. Chúng ta cũng được dạy về lòng biết ơn đối với tổ quốc, biết ơn những bậc tiền nhân đã dựng nước và giữ nước, cám ơn các chiến sĩ đã hy sinh thân mình để bảo vệ đất nước.

Trong cuộc sống hằng ngày, có biết bao điều mà ta phải cảm ơn. Quanh ta có xóm giềng giúp đỡ ta lúc khó khăn, trong tình ‘Tối lửa tắt đèn’. Mỗi ngày chúng ta nhận được những nụ cười thăm hỏi, những lời khích lệ chân tình, những ánh mắt cảm thông. Và điều mà chúng ta cần phải tri ơn hơn hết chinh là Ơn Trời như ca dao nước ta nhắc đến:

Con chim, nó hót trên cành,
Nếu Trời không có, có mình làm sao?
Con chim nó hót trên cao,
Nếu Trời không có, làm sao có mình?

Núi kia ai đắp nên cao,
Sông kia biển nọ ai đào mà sâu?

Gai trên rừng ai vuốt mà nhọn,
Trái trên cây ai vo mà tròn?

Ông bà ta quan niệm rằng ông Trời chính là Đấng Tối Cao sinh ra con người, hằng quan phòng và nắm quyền thưởng phạt, có đầy uy quyền, điều hành vũ trụ càn khôn cách công minh, chánh trực. Dầu Ngài là Đấng công bằng, cao cả nghiêm minh nhưng lại rất nhân từ. Do vậy khi gặp điều may mắn, tốt lành hay gặp cảnh khổ não khó khăn, con người đều nghĩ đến Trời:

Nhờ Trời tôi được thế nầy.
Phước ơn tuôn đổ dạt dào chẳng thôi.

Đèn trời, trời sáng bốn phương,
Đèn tôi, tôi sáng đầu giường nhà tôi.

Đêm đêm ra thắp đèn trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

Thánh Kinh chẳng những bày tỏ cho con người biết có một Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, mà còn cho biết Đức Chúa Trời cũng chính là Thiên phụ, là Cha của chúng ta. Vì tổ phụ loài người chúng ta phạm tội, nên đặc quyền làm con Trời đã bị tước mất. Nhưng Đức Chúa Trời yêu thương loài người bằng tình yêu bao la, nên con của Ngài là Chúa Cứu Thế Jesus đã đến trần gian để gánh thế tội cho nhân loại chúng ta và phục hồi quyền làm con cho những ai tin nhận Ngài. Khi quý vị tin nhận Chúa Jesus, quý vị được quyền gọi Đức Chúa Trời là Cha.

Xưa kia chỉ biết kêu trời,
Mà nay đã biết gọi Trời là Cha,
Trần gian chẳng phải là nhà,
Đi về vĩnh cửu gặp Cha trên trời.

Ông Bradford, thống đốc tiểu bang Massachusetts Hoa Kỳ, đã đọc bài diễn văn vào ngày Lễ Tạ Ơn năm 1623 trước những người Mỹ đến vùng đất Plymouth, như sau: "Kính thưa tất cả quý vị, Bởi vì Thiên phụ của ta đã ban cho chúng ta năm nay được trúng mùa, đầy ấp ngũ cốc: Nào lúa mì, đậu Hòa Lan, bí, các loại rau. Chúng ta đã khai khẩn đến tận bờ biển phía đông nơi ngập tràn cá tôm, ngọc trai. Đức Chúa Trời đã bảo vệ chúng ta khỏi những cuộc tấn công của các loài dã thú, cứu chữa chúng ta khỏi những cơn bệnh hiểm nghèo, Ngài ban cho chúng ta sự tự do để thờ phượng Ngài theo lòng kiên quyết muốn tôn thờ của chúng ta. Trong giờ nầy với tư cách của người cầm cân nẩy mực của tiểu bang nầy, tôi ca ngợi quý vị, vì sự hiện diện của quý vị, vợ con quý vị, ngay cả những trẻ thơ. Tất cả quý vị đã tề tụ về đây để nhóm họp từ 9 sáng đến 12 trưa ngày Thứ Năm, 29 tháng 11 năm 1623 nầy. Giờ đây xin quý vị hãy lắng nghe sứ điệp tạ ơn của mục sư, dâng lên Đức Chúa Trời toàn năng vì tất cả mọi ơn phước Ngài đã ban cho chúng ta."

Khoảng 3000 năm trước vua David cũng đã dâng lên Đức Chúa Trời lời cảm tạ và chúc tụng trước toàn dân: "Ca ngợi Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, tổ tiên chúng con, đời đời mãi mãi. Lạy Chúa, sự cao trọng, quyền năng, vinh quang, chiến thắng, uy nghi đều thuộc về Ngài. Mọi vật trên trời dưới đất đều là của Ngài. Thưa Chúa, đây là Nước của Ngài. Chúng con ca tụng Ngài là Chúa Tể muôn vật. Giàu có, vinh dự đều đến từ Chúa. Chúa quản trị cả muôn loài, tay Chúa ban phát quyền năng, sức mạnh, Chúa cho tất cả được cao trọng, hùng cường. Lạy Đức Chúa Trời chúng con! Chúng con xin cảm tạ và khen ngợi Danh vinh quang của Ngài." (1 Sử ký 29:10-13)

Vị cố vấn của hoàng đế Ba-by-lôn (thuộc Iraq ngày nay) là Đa-ni-ên cũng đã dâng lên Chúa trên trời tất cả lòng tri ơn với những lời tán tụng: "Đáng ca ngợi Danh Chúa đời đời mãi mãi, vì khôn ngoan và sức mạnh đều thuộc về Ngài! Chúa thay đổi thời kỳ, mùa tiết. Chúa phế lập các vua và lãnh tụ các nước. Chúa ban sự khôn ngoan cho người tìm kiếm Chúa và tỏ tri thức cho người có trí hiểu. Chúa tiết lộ những điều sâu xa, huyền nhiệm. Chúa thấy suốt cõi tối tăm dày đặc, và Chúa là Nguồn Sáng muôn đời. Kính lạy Chúa, là Chân Thần của tổ phụ con, con cảm tạ và ca ngợi Chúa vì Ngài đã ban cho con đủ khôn ngoan và nghị lực, và tiết lộ cho con biết điều con cầu xin, tức là giấc mộng bí mật của nhà vua." (Đa-ni-ên 2:20-23)

Nhân vật thứ ba là tiên tri Giô-na, cũng đã dâng lên Chúa lòng biết ơn bởi vì trước đó ông đã không vâng theo mạng lệnh Chúa. Ngài bảo ông đến thành phố Ni-ni-ve bên phương đông để loan báo thông điệp của Đức Chúa Trời cho thành phố nầy, thì ông xuống tàu đi qua phương Tây. Trên đường trốn Chúa, Chúa đã khiến cơn ba đào giông tố đến, khiến cho con tàu sắp chìm, ông bị quăng xuống biển. Đáng lẽ ông đã bị chết, nhưng Chúa thương xót, cho ông cơ hội thứ hai. Ngài dự bị một con cá lớn nuốt ông. Và ông được sống trong bụng cá như đang ở trong chiếc tiềm thủy đỉnh. Tại nơi đó, ông đã dâng lên Chúa lời cầu nguyện, ông bày tỏ lòng biết ơn sâu xa trước sự nhơn từ và tha thứ của Chúa! Ông thưa với Chúa rằng: "Trong cơn hoạn nạn, con kêu cầu Chúa Hằng Hữu, thì Ngài đáp lời; từ lòng âm phủ, con kêu cứu, thì Chúa nghe tiếng con. Vì Chúa ném con trong vực sâu dưới đáy biển, dòng hải lưu bao bọc lấy con. Bao nhiêu lượn sóng lớn và ba đào của Chúa đều ầm ầm kéo qua trên đầu con. Khi ấy, con thưa: 'Con đã bị ném khỏi mặt Ngài; dù vậy, con vẫn nhìn lại Đền Thánh Ngài.' Nước bao phủ cả thân thể lẫn linh hồn con, vực sâu bao bọc chung quanh. Rong rêu vương vấn đầu con. Con đã xuống tận đáy các hòn núi. Đất đã khóa cửa nhốt con vĩnh viễn. Lạy Chúa Hằng Hữu Chân Thần, Chúa đã đem mạng sống con ra khỏi huyệt mộ. Khi con tuyệt vọng, con liền nhớ Chúa, và lời cầu nguyện con lên thấu Chúa, trong Đền Thánh Chúa. Những kẻ thờ lạy thần tượng hão huyền xây lưng từ khước lòng thương xót Chúa dành cho mình. Nhưng con sẽ dâng lời cảm tạ, dâng sinh tế cho Chúa và trả xong điều con hứa nguyện. Sự giải cứu chỉ đến từ Chúa Hằng Hữu!" Chúa ra lệnh cho con cá và nó mửa Giô-na ra trên đất khô." (Giô-na 2:2-10)

Thánh sử cũng ký thuật một trong nhiều phép lạ Chúa thực hiện cách đây 2000 năm trước là phép lạ chữa lành cho 10 người cùi. Tiếc rằng trong 10 người cùi đã được chữa lành đó, chỉ có một người quay lại đội tạ ơn Ngài. Ông Charles Brown sau khi đọc câu chuyện nầy đã nghĩ ra các lý lẽ mà 9 người vong ơn, đã không quay lại cảm ơn Chúa là: (1) Người thứ nhất viện cớ mình không quay lại cảm ơn Chúa vì muốn xem lại mình có thực sự lành chưa! Sau đó mới quay lại. (2) Người thứ nhì xem mình có trở bịnh không, rồi mình mới quay lại cảm ơn Chúa. (3) Người thứ ba nói rằng sau nầy gặp lại Chúa mình sẽ nói lời cám ơn. (4) Người thứ tư, nhất quyết cho rằng mình chưa hề mắc bệnh cùi, cần gì cám ơn Chúa (5) Người thứ năm lý luận rằng từ xưa tới giờ mình vẫn khỏe, đâu có bệnh gì đâu! (6) Người thứ sáu, thay vì biết ơn Chúa, làm vinh hiển Ngài qua lòng tri ân thì ông ta lại ca ngợi thầy tế lễ là người có trách nhiệm khám bệnh và tuyên bố mình hết bịnh, cho phép mình trở về sống với công đồng! (7) Người thứ bảy nói với giọng vô ơn: Cảm tạ Chúa hả! Ngài đâu có làm gì cho tôi đâu mà tôi phải cám ơn Ngài (8) Người thứ tám lạnh lùng nói: Đâu phải một mình Chúa làm phép lạ nầy, thầy dạy luật cũng có thể làm được mà! (9) Người thứ chín nói: Trước khi Chúa chữa, bệnh tôi đã thấy khá hơn rồi!

Nghĩ đến thái độ dửng dưng, phủ nhận ơn Chúa của 9 người nầy, chúng ta cảm thấy buồn cho họ. Họ đã thọ ơn Chúa, nhưng chẳng dâng lên Chúa lòng tri ơn. Chúng ta quyết không theo vết xe đổ của 9 người vô ơn kia, nhưng theo gương của người cùi biết ơn, sau khi biết mình đã được lành bịnh, vội quay lại cám ơn Chúa.

Trước đây tuần báo Newsweek có một bài viết khá nặng chê trách Tổng Thống Bill Clinton là một con người vô ơn khi chỉ hai ngày sau khi tái đắc cử tổng thống, ông đã sa thải ông Harold Ickes là một cộng sư viên đắc lực đã giúp ông thành công trong cả hai lần tranh cử vào năm 1992 và 1996. Hiển nhiên dù ở trong nền văn hóa nào, không ai chấp nhận thái độ vô ơn. Tuy nhiên điều nghịch lý là, ở nơi sâu kín trong lòng của con người lại tiềm ẩn ít nhiều sự vô ơn, cho nên dựa vào kinh nghiệm đau thương đó người Việt mình đã có những câu nói chua chát như “vô ơn bạc nghĩa”, hay “thói đời đen bạc”, hoặc “cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán” là vậy!

Chính Chúa Jesus cũng than lên rằng “Không phải mười người đều được lành sao? Còn chín người kia ở đâu?” (Lu-ca 7:17-18) Như vậy là dù ở thời đại nào và trong nền văn hóa nào cũng đều có những con người vô ơn, và tất nhiên không ai tán thưởng lòng vô ơn cả. Cho nên trong bối cảnh đạo đức đi xuống của xã hội ngày hôm nay, khi mối quan hệ giữa con người với nhau và với Đức Chúa Trời ngày càng suy sụp, lòng biết ơn thật là một đức hạnh rất quý báu mà chúng ta cần có. Lòng biết ơn phát xuất từ tấm lòng biết ơn Chúa chính là ý nghĩa đích thực, mang đúng tinh thần tạ ơn.

Chúa yêu quý vị, Ngài đã giáng trần vì quý vị, và đã chết thế tội cho quý vị trên cây thập tự giá. Rất mong quý vị dâng lên Chúa lòng biết ơn Chúa, nhất mời Chúa vào tâm hồn trong giờ nầy.

Kính chào quý vị và các bạn.