Phỏng theo 'Witches Loaves' của O. Henry

Cô Martha sắp đến tuổi 40 mà vẫn sống độc thân. Cô làm chủ lò bánh mì nhỏ ở góc phố và cô tiếp xúc với nhiều khách hàng, một trong những khách hàng khiến cô chú ý nhất là người đàn ông độ tuổi trung niên, đeo kính, có bộ râu quai nón rậm được cắt tỉa gọn gàng. Ông ta nói tiếng Anh bằng giọng Đức rất nặng. Bộ veston cũ của ông hơi rộng, không được gọn cho lắm, có nhiều chỗ vá, nhưng ông vẫn lộ vẻ đạo mạo, với tác phong của người đàn ông đứng đắn. Lúc nào ông cũng đến mua hai ổ bánh mì cũ đã khô cứng từ tiệm của cô Martha. Bánh mì mới ra lò giá năm xu một ổ, còn bánh mì cũ thì hai ổ năm xu.

Một ngày kia Martha nhận thấy những vệt bột màu đỏ, màu nâu ở ngón tay của ông khách, cô khẳng định đây là một họa sĩ nghèo, nghèo hơn người nghèo bình thường! Rất có thể là ông phải sống ở đâu đó trên căn gác tồi tàn! Hàng ngày phải ăn những mẩu bánh mì khô cứng.

Vào một buổi sáng nọ, đang khi ngồi ăn điểm tâm, cô chợt nghĩ đến ông khách mà cảm thương người họa sĩ nghèo! Đáng lẽ một họa sĩ tài ba như ông phải hưởng thức ăn ngon, thế mà ông ta phải nhai đi, nhai lại những mẩu bánh mì đã khô cứng.

Martha quyết định kiểm tra lại điều mình phỏng đoán, cô mang ra ngoài quầy hàng bức họa trước đây cô đã mua đấu giá. Bức họa nầy là hình một cung điện nguy nga bằng đá trắng. Cạnh bên cung điện là con sông với chiếc thuyền con, bên trên là những đám mây trắng giữa bầu trời xinh đẹp. Không một họa sĩ nào thấy một bức họa đó mà lại không chú ý đến nó!

Hai ngày sau, người khách ấy lại đến cửa tiệm mua bánh mì. Đang khi cô gói bánh, ông ta khen:

"Ô! Bức họa đẹp quá!"

"Thế à?" Cô Martha rất vui mừng, hớn hở vì kế của mình thành công.

"Tôi yêu nghệ thuật lắm!" Cô định nói là tôi yêu luôn cả người nghệ sĩ, nhưng lại thôi.

"Vốn là nhà hội họa chắc ông cũng thích bức tranh này?"

"Cung điện này vẽ không đúng, phối cảnh không chuẩn xác! Thôi, xin chào cô."

Ông khách cầm gói bánh mì, cúi chào và bước nhanh ra cửa. Đến lúc đó Martha khẳng định ông ta chính là họa sĩ! Tội nghiệp cho những thiên tài nhiều khi buộc phải vật lộn với cuộc sống để sinh tồn trước khi thế giới công nhận họ!

Rồi từ đó mỗi lần bước vào tiệm, người khách thường đứng lại một vài phút ở quầy hàng để nói chuyện với cô. Rõ ràng là sự niềm nở của Martha đã làm cho ông ta thích thú.

Ông vẫn tiếp tục mua bánh mì khô cứng và không hề mua gì khác ngoài những mẫu bánh mì khô đó! Cô thấy ông gầy đi, và thật tội nghiệp cho ông. Cô rất muốn biếu thức ăn ngon cho ông ta, nhưng lần nào cũng thế, cô không đủ can đảm làm điều đó! Cô sợ xúc phạm đến ông vì họa sĩ vốn là người có nhiều tự ái!

Cô Martha bắt đầu xuất hiện ở quầy hàng trong chiếc áo lụa mới trắng chấm xanh. Rồi vào một ngày đẹp trời kia, người khách lại ghé vào tiệm như thường lệ, đặt tiền lên quầy hàng và mua hai ổ bánh mì khô muôn thuở của mình. Khi Martha vừa lấy bánh mì thì ngoài phố vang lên tiếng còi hú của chiếc xe cứu hỏa vừa phóng vụt qua cửa tiệm. Ông khách lao vọt ra cửa để xem việc gì xảy ra. Trong đầu cô Martha bỗng lóe lên một ý nghĩ tuyệt diệu. Cô lợi dụng cơ hội, lấy dao cắt đôi hai ổ bánh mì rồi đặt vào mỗi ổ một lát bơ khá lớn, sau đó kẹp chặt lại. Khi ông khách quay vào thì cô Martha đã kịp gói bánh vào giấy. Sau vài phút nói chuyện ngắn ngủi không kém phần thú vị, ông ta rời cửa tiệm. Còn Martha lặng thinh mỉm cười, mặc dù tim cô đang đập liên hồi! Cô tự hỏi: Phải chăng mình quá liều lĩnh? Nếu ông ấy tự ái thì sao? Không! Thức ăn đâu phải bông hoa - chúng không có ngôn ngữ. Tặng bơ hoàn toàn không có ý xấu mà.

Hôm đó Martha suy nghĩ nhiều! Cô hình dung cảnh ông khách khám phá việc cô làm! Này nhé, ông ấy xếp bút vẽ và bảng pha màu lại. Trên giá vẽ là một bức tranh được phối cảnh rất hoàn hảo. Ông chuẩn bị bữa sáng bằng bánh mì khô và nước lã. Nhưng không, khi lấy bánh mì ra… Ái chà! Mùi bơ thơm làm sao! Hai má Martha ửng hồng. Chắc ông ta nghĩ đến bàn tay người đã cho bơ vào bánh mì!

Chuông tại quầy hàng bỗng ré lên liên hồi như căm giận điều gì đó! Có tiếng người bước thình thịch vào trong tiệm. Cô Martha vội từ phòng trong chạy ra, nhìn thấy hai người đàn ông. Mặt ông khách quen phừng phừng nổi giận, ông giơ quả đấm trước mặt Martha! Ông giận dữ quát lên bằng tiếng Đức

“Dummkopf!”

Người thanh niên đứng bên cạnh kéo ông ra cửa

"Không, tôi sẽ không rời khỏi nơi đây trước nói hết mọi sự cho cô ta… Cô ta phá hỏng hết sự nghiệp của tôi, cô ta là một con khỉ già láo lếu!"

Cô Martha kiệt sức tựa lưng vào chiếc giá xếp bánh mì, tay nắm chiếc áo lụa của cô. Người thanh niên cản lại:

"Đi thôi! Nói hết như vậy là được rồi." Anh ta kéo họa sĩ đang phát khùng ra đường, rồi quay lại nói với Martha:

"Tôi không giấu gì cô lý do xảy ra việc ầm ĩ này. Ông Blumberger là một kiến trúc sư cùng tôi làm việc cho cơ quan xây dựng. Ba tháng nay ông Blumberger gò lưng làm việc không mệt mỏi, thiết kế tòa nhà thị chính mới để chuẩn bị mang dự thi. Chiều hôm qua ông đồ lại bản vẽ bằng mực tàu. Chắc cô cũng biết, trước hết phải vẽ bằng bút chì, sau đó tẩy những đường chì bằng bánh mì khô, dùng bánh mì khô tốt hơn dùng cục tẩy. Ông Blumberger thường mua bánh mì của cô. Còn hôm nay… cô biết đấy… chỗ bơ của cô… cô cứ tưởng tượng xem… bản vẽ của ông ta bây giờ chỉ có nước đem đi gói bánh mì mà thôi!"

Martha bước vào trong, cởi chiếc áo lụa mới ra, mặc vào chiếc áo vải nâu cũ, cô quăng luôn lọ mỹ phẩm rửa da mặt vào thùng rác.

Kính thưa quý vị,

Qua câu chuyện nầy ta thấy sự hiểu lầm là điều thật tai hại! Có những sự hiểu lầm có thể tha thứ được, nhưng cũng có những sự hiểu lầm không thể tha thứ được, nhất là người hiểu lầm dầu biết những gì mình quyết đoán là không đúng nhưng vẫn cố chấp, không thay đổi!

Điều buồn nhất là con người hiểu lầm Đấng Tạo Hóa mình. Sở dĩ thế giới ngày nay có nhiều tôn giáo vì con người đã không hiểu đấng mà họ thờ phượng. Họ đã hiểu lầm Đấng mà họ phải tôn thờ! Họ thấy núi cao, họ thờ thần núi. Họ thấy sông dài, biển rộng họ bèn thờ thần sông, thần biển…

Hai ngàn năm trước triết gia Paul đến viếng vùng núi tại thành A-then của Hy Lạp, ông vô cùng ngạc nhiên vì thấy đâu đâu cũng có bàn thờ. Có một bàn thờ để thờ vị thần được gọi là ‘Thần Không Biết’. Những người Hy Lạp thời đó nghĩ rằng dẫu mình đã thờ nhiều thần nhưng có thể thiếu vị thần nào đó thì chắc họ sẽ mắc tội trọng, nên họ lập bàn thờ để thờ vị thần họ chưa hề biết! Đứng trước đám đông, triết gia Paul giải bày cho họ biết rằng Đấng họ phải kính mến, tôn thờ là ai. Ngài chính Đấng Tạo Hóa sáng tạo thế giới và con người. Đấng đã đến viếng thế giới do chính Ngài sáng tạo, thế mà phần đông nhân loại vẫn chưa nhìn biết! Ngài chính là Chúa Cứu Thế Jesus.

Thưa quý vị hai ngàn năm trước Chúa Cứu Thế Jesus là Ngôi Hai Đức Chúa Trời đã giáng thế làm người để giải cứu loài người ra khỏi tội lỗi và sự chết. Chúa Jesus chính Đường Đi, Chân Lý và Sự Sống. Chúa Jesus chính là Đấng Tạo Hóa trong thân xác con người, Đấng mà tất cả chúng ta phải yêu kính tôn thờ.