Phỏng theo 'Artaban's Gifts - A Story' của Henry Van Dyke

Thánh sử đã cho chúng ta biết thế nào Chúa Cứu Thế Jesus đã phải giáng sinh trong chuồng súc vật ở thành Bê-lem vì nhà quán không còn chỗ trống khi tất cả người Do Thái phải về quê quán đăng ký theo lệnh kiểm tra dân số của hoàng đế Sê-sa Au-gút-tơ. Sau khi Chúa Jesus giáng sinh, các nhà thông thái bên đông phương đã thấy ngôi sao lạ, họ liền tìm đến Ấu Chúa để tôn thờ. Dù đã được ngôi sao lạ dẫn đường, nhưng họ đã bị lạc đường. Thay vì tiếp tục theo dấu ngôi sao để đến nơi Chúa sinh là thành Bê-lem, họ đến thủ đô Jerusalem cách Bê-lem có 5 dặm, tiến vào hoàng cung của vua Hê-rốt, hỏi nhà vua rằng: "Tâu bệ hạ Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến thờ lạy Người." Nghe tin ấy, vua Hê-rốt bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thầy tế lễ và giáo sư Thánh Kinh trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Cứu Thế của nhân loại phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: "Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách tiên tri, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời."

Bấy giờ vua Hê-rốt bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho trẫm, để trẫm cũng đến bái lạy Người." Các nhà bác học tiếp tục lên đường. Ngôi sao họ đã thấy bên Đông phương lại mọc lên sáng rực, hướng dẫn họ đến tận nơi Con Trẻ ở. Vào đến nhà, thấy Hài Nhi và mẹ Ngài, các nhà thông thái liền quỳ xuống thờ lạy Ngài, rồi dâng hiến vàng, trầm hương và nhựa thơm. Sau đó, họ được Đức Chúa Trời báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rốt nữa, nên đã đi đường khác mà về xứ mình."

Kính thưa quý vị,

Cảm động trước câu chuyện các nhà thông thái tôn thờ Đức Chúa Jesus, Cứu Chúa của nhân loại, nhất là tình yêu và sự hy sinh của Chúa Cứu Thế Jesus dành cho con người, nhà văn Henry Van Dyke viết một câu chuyện tưởng tượng về nhà thông thái thứ tư như sau:

Artaban là tên của nhà thông thái thứ tư. Ba bạn của ông ta là Ba-tạc-sa, Cát-ba và Mác-chi-cơ, tất cả đều là những bậc học thức uyên thâm, là những nhà vương giả cao sang quyền quý. Artaban và các bạn là cũng là nhà thiên văn, họ đã tìm thấy vì sao lạ xuất hiện ở phía chân trời Tây. Nhờ tra xem sử sách và lời chỉ dẫn của người Do Thái lưu vong, họ biết vì sao ấy báo hiệu rằng có một Vua Trời đã giáng thế. Họ về nhà thu xếp, chuẩn bị lễ vật và hành lý, rồi cùng hẹn nhau rằng lúc nào thấy ngôi sao chuyển động thì phải đến ngay điểm hẹn để khởi hành.

Artaban vì cần giúp một người bệnh nặng, nên sự chuẩn bị chậm hơn các bạn mình. Ông bán hết tài sản mình có để mua 3 viên ngọc thật quý. Đêm về ông ngắm sao trời để chờ lúc ngôi sao nầy chuyển động. Vì thức trắng nhiều đêm, nên trong đêm ngôi sao lạ chuyển động, ông đã ngủ gục bên chiếc viễn vọng kính. Ba bạn của Artaban đều đến đúng điểm hẹn, họ nóng lòng vì đến thời điểm vô cùng cấp bách nầy mà Artaban vẫn chưa đến! Sợ trễ nên họ đành phải khởi hành trước theo sự hướng dẫn của ngôi sao. Phương tiện di chuyển của họ là lạc đà, họ đem theo lễ vật là vàng, trầm hương, và nhựa thơm để dâng lên Vua Trời trên con đường xa xôi nghìn dặm.

Khi các bạn đã đi một đoạn đường thật xa thì Artaban giựt mình thức giấc. Ông ta hoảng hốt khi nhìn thấy vì sao đã di chuyển và mờ dần phía chân trời. Ông vội vã đem tất cả hành lý lên đường, đến chỗ hẹn. Nhưng than ôi! Các bạn đã đi rồi. Nhưng dầu trễ, Artaban cũng phải lên đường. Ngồi trên lưng lạc đà, ông nâng niu chiếc bao da chứa 3 viên ngọc quý là bích ngọc, hồng ngọc và trân châu làm lễ vật dâng lên Vua Trời.

Artaban biết các bạn mình sẽ dâng lên Chúa vàng, trầm hương, và nhựa thơm, biểu tượng cho uy nghi cao cả của Vua Trời hạ giáng và chức vụ thánh của Ngài khi đến thăm thế giới do chính Ngài sáng tạo và giải cứu con người. Ông ngắm nghía viên bích thật hoàn mỹ, vừa tròn vừa trắng, có đủ màu ngũ sắc cầu vòng lấp lánh, rồi rút ra viên ngọc hồng ngọc tuyệt đẹp, to như trứng chim bồ câu và tiếp tục lấy ra viên trân châu ngời sáng, lấp lánh như ánh sao. Artaban vượt qua những vùng sa mạc cát nóng, qua những khu rừng lạnh giá, băng suối, vượt đèo. Khi đến thành Bê-lem thì biết rằng cuộc kiểm tra dân số đã chấm dứt, tìm đến nơi Chúa đã sinh ra thì biết Ngài đã rời khỏi nơi nầy 3 tuần lễ rồi!

Artaban đang khi tạm trú tại nhà quán thì thấy hai người đàn bà đập cửa vào phòng, cả hai đều ẵm trên tay đứa con dưới 2 tuổi. Họ xin ông che chở con mình, vì bao chúa Hê-rốt đã ra lịnh giết tất cả các bé trai dưới 2 tuổi. Để cứu 2 đứa bé nấp mình trong lòng mẹ, Artaban hiến viên bích ngọc cho một viên chức trong quân đội của Hê-rốt, xin tha mạng cho hai trẻ.

Đầy tớ của Artaban cố thuyết phục Artaban trở về nước, nhưng ông không chịu nghe. Ông tiếp tục sang nước Ai-cập để tìm Cứu Chúa. Artaban tìm mãi từ những khu dân cư giàu có đến tất cả thôn xóm bần hàn, nhưng không gặp được Chúa. Trên đường tìm kiếm, ông gặp nhiều người bệnh không có tiền chạy chữa nên Artaban bán viên trân châu để trả giúp mọi chi phí cho họ. Sau đó ông quay về Do Thái.

Thời gian qua như tên bắn, thấm thoát đã ba mươi năm. Khi đến Jerusalem thì Artaban đã sức tàn lực kiệt. Những đầy tớ của ông được chứng kiến những phép lạ tuyệt diệu của Chúa Jesus, nên họ nhanh chóng quay trở lại để báo tin cho Artaban. Nghe tin đó Artaban cố lê đến Jerusalem tìm Chúa, ông hay tin Ngài bị bắt và bị tử hình trên cây thập tự ở ngoại thành Jerusalem. Artaban hy vọng sẽ dùng viên ngọc vô giá còn lại của mình để cứu Chúa Jesus khỏi án tử hình. Trên đường bước vào nội thành Jerusalem, ông gặp bọn người hung hăng tay cầm gươm giáo, lôi kéo một cụ già, trước sự van nài của thiếu nữ xinh đẹp: "Quý ông ơi! Xin tha cho cha của tôi. Cha tôi đã tuổi già sức yếu, không cách nào để kiếm ra tiền để trả nợ cho các ông. Thân tôi đây xin nguyện làm tôi đòi cho quý ông. Miễn là quý ông tha mạng cho cha tôi" Lúc đó Artaban rút viên ngọc trong túi ra và nói: "Quý ông ơi! Xin nhận viên hồng ngọc nầy, đây là báu vật còn lại để tôi dâng lên Cứu Chúa của nhân loại, nhưng tìm mãi mấy mươi năm mà chưa thấy Ngài. Nay sắp gặp Ngài thì tôi phải chứng kiến cảnh đau thương nầy, vậy xin quý ông nhận viên ngọc nầy rồi trả tự do cho cha con họ." Sau khi nhận viên hồng ngọc, bọn người bỏ đi. Cô gái phủ phục xuống trước mặt Artaban và nói: "Thưa ông! Con không biết nói gì để đáp lại thâm ơn mà ông dành cho con. Con không biết làm gì hơn là cầu xin Trời cao ngó xuống, xin Ngài cho ông được tròn ước nguyện!"

Artaban không còn báu vật nào nữa để dâng lên cho Chúa, ông đành lặng nhìn Cứu Chúa của ông bị người ta hành hình. Người ta đã nhẫn tâm đóng đinh Chúa trên cây thập tự. Rồi Ngài tắt hơi, bị chôn. Nhưng đến ngày thứ ba, lúc Artaban kiệt sức, nằm dài trên thảm cỏ bên đường, Chúa Cứu Thế sống lại và xuất hiện trước mặt ông. Artaban hỏi: "Chúa Jesus, Cứu Chúa của con! Không phải là Ngài đã chết rồi hay sao? Lạy Chúa, con đã tìm Ngài trong một thời gian rất lâu! Con đã từng có những quà tặng quý báu để dâng hiến cho Ngài, nhưng giờ đây con không còn gì cả."

Chúa Jesus phán: "Con ơi! Ta là Đấng từ Trời giáng hạ. Cách đây 33 năm, con đã tìm đến tôn thờ Ta, và trong suốt thời gian dài tất cả lễ vật của con dâng lên đều đã được ta đoái nhậm: "Khi Ta đói, con đã cho Ta ăn; Ta khát, con đã cho Ta uống; Ta là người lạ, con đã tiếp rước Ta; Ta cần quần áo, con đã cho Ta y phục."

Artaban rất ngạc nhiên, hỏi: "Chúa Jesus ơi! con đã gặp Ngài ở đâu? Con đã phụng sự Ngài khi nào?" Chúa Cứu Thế Jesus trả lời: "Ta bảo cho con biết sự thật nầy! Bất cứ điều gì con làm cho những anh em hèn hạ khốn cùng nhất của Ta, là con đã làm cho Ta vậy."

Cuối cùng ước nguyện của Artaban đã được thành tựu, ông qua đời trong sự bình an, trong vòng tay Cứu Chúa của ông, Đấng mà suốt bao năm ông tìm kiếm tôn thờ. Đấng ấy đã rước ông về sống với Ngài nơi thiên đàng hạnh phước, hưởng trọn niềm vui trong cõi vĩnh hằng.