Mục sư Tiến sĩ Ngô Minh Quang

Một thương gia đã đến giờ họp, một buổi họp vô cùng quan trọng, mà ông vẫn chưa vào phòng họp được, vì ông đến trễ, chiếc xe ông lái vẫn nằm chờ ngoài bãi đậu xe! Vừa lái xe, vừa đảo mắt tìm chỗ trống nhưng tìm mãi vẫn không thấy! Ông chạy vòng vòng khắp nơi nhưng chỗ nào cũng có xe đậu. Cuống cuồng, và vừa nóng ruột vừa lo lắng, ông không biết phải xoay sở thế nào! Ngay lúc đó một ý tưởng chợt đến với ông, ‘cầu nguyện xin Chúa giúp mình’ Thế rồi ông nhìn lên trời: "Kính lạy Chúa! Xin thương xót con. Nếu con tìm được chỗ đậu xe. Con hứa là sẽ đi nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật suốt quãng đời còn lại của con. Con cũng xin hứa con sẽ bỏ rượu, kể từ giờ phút nầy mãi đến về sau con sẽ không uống rượu nữa!"

Kỳ diệu thay! Khi ông vừa dứt lời cầu nguyện, trước mặt ông, có một chỗ trống. Thay vì dâng lên Chúa lời cảm ơn và quyết giữ đúng lời hứa. Ông ta tự nhủ, ‘Không! Đây chỉ là may mắn! Thôi mình đừng quan tâm đến lời mình đã hứa!'

Thưa quý vị! Thương gia nầy không phải là người duy nhất bị mù mắt, không nhìn thấy Chúa là Đấng trả lời cầu xin của mình. Ông ta cũng không nghĩ những gì ông có cũng là sự ban cho của Đấng Tạo Hóa là Đấng lắng nghe lời cầu nguyện của ông. Loài người chúng là tạo vật quý yêu của Đức Chúa Trời, Ngài quan tâm đến từng nhu cầu của loài người.

Khi nghĩ đến điều nầy tôi liên tưởng đến câu châm ngôn của người Ba Tư ngày xưa: "Người không biết mà không biết mình không biết, là người dại! Ta hãy tránh xa người ấy. Người không biết, biết mình không biết là người còn non trẻ! Ta hãy dạy bảo người. Người biết mà không biết mình biết, là người ngủ mê! Ta hãy đánh thức người. Người biết mà biết mình biết là người khôn, ta hãy đi theo người để học hỏi."

Cũng có hai câu hỏi được đặt ra ở đây! Ai là người dốt mà biết mình dốt, để học hỏi hầu thoát ra sự dốt nát ấy? Và ai là người mù lòa nhận biết mình đang ở trong tình trạng mù lòa, để hết lòng cầu xin Chúa mở mắt cho mình. Thánh sử ký thuật lại rằng một ngày kia: "Hay tin Chúa đến, những người thuộc phái Pha-ri-si tới tranh luận với Ngài. Họ muốn gài bẫy, nên xin Ngài làm một dấu lạ trên trời. Chúa Jesus thở dài đáp: “Tại sao thế hệ này đòi xem dấu lạ? Ta cho các ngươi biết, sẽ chẳng có dấu lạ nào theo ý muốn các ngươi cả!” (Mác 8:11-12)

Những người Do Thái theo phái Pha-ri-si, là những thầy dạy luật, tinh thông Kinh luật, có nhiều kiến thức, họ là những người tri thức, nhưng tiếc cho họ vì họ có mắt mà như người mù, họ không nhìn biết Chúa Jesus, vị Cứu Tinh của nhân loại, Đấng mà cả Thánh Kinh nói đến, Đấng mà các nhà tiên tri đã loan báo sự giáng thế của Ngài, Chính Chúa Jesus đã quở trách họ về sự mù lòa của họ: "Chính Cha, là Đấng đã sai Ta, cũng làm chứng về Ta. Các ngươi chưa hề nghe tiếng Ngài, chưa hề thấy mặt Ngài, và đạo Ngài không ở trong các ngươi, vì các ngươi không tin Đấng mà Ngài đã sai đến. Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: Ấy là Kinh Thánh làm chứng về Ta vậy. Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống!" (Giăng 5:37-40) Chúa Jesus cũng dạy rằng: “Ta xuống trần gian để giúp kẻ mù được sáng, và cho người sáng biết họ đang mù.” Những người Pha-ri-si đứng gần nghe câu ấy, liền chất vấn Ngài: “Thầy bảo chúng tôi mù sao?” Chúa đáp: “Nếu các ngươi biết mình mù thì được khỏi tội. Nhưng các ngươi cứ cho mình sáng nên tội vẫn còn.” (Giăng 9:39-41)

Nan đề chính của những người Pha-ri-si là ‘lòng cứng cõi, ngạo mạn’, họ không biết họ là những kẻ dốt nát, họ tưởng mình là những nhà đạo đức, khôn ngoan, có sự hiểu biết uyên thâm. Họ ganh tức khi thấy Chúa Jesus được nhiều người đi theo, lời nói và việc làm của Chúa đầy năng quyền. Dầu thấy Chúa đã làm những phép lạ, chữa lành nhiều người bệnh nhưng họ vẫn không tin. Họ thách thức Chúa, gài bẫy Ngài, xin Ngài làm dấu lạ trên trời. Chúa thở dài đáp: “Tại sao thế hệ này đòi xem dấu lạ? Ta cho các ngươi biết, sẽ chẳng có dấu lạ nào theo ý muốn các ngươi cả!” (Mác 8:12) Rồi Chúa rời bỏ họ xuống thuyền, sang bờ biển bên kia.

Chúa Jesus đã làm nhiều lần dấu lạ trước mặt họ! Nào là Chúa đuổi quỷ ra khỏi một người tại nhà hội. (Mác 1:26) Nào là Chúa chữa lành cho một người đau bại được bốn người khiêng. (Mác 2:10-12) Nào là Chúa chữa lành cho một người bàn tay bị teo. Trong phép lạ chữa lành nầy Chúa vừa buồn vừa giận vì thấy họ dửng dưng trước sự khổ đau của đồng loại. Thánh sử ký thuật lại rằng: Ngài bảo người teo tay: “Con xòe bàn tay ra!” Anh vâng lời, bàn tay liền được lành. (Mác 3:5) Chúa Jesus kêu con gái của chủ nhà hội từ cõi chết sống lại. Một phép lạ mà không một người nào ở trần thế nầy thực hiện được. (Mác 5:41) Từ 5 ổ bánh và 2 con cá, Chúa thiết đãi cho năm ngàn người ăn, không kể đàn bà và trẻ em bằng phép lạ. Thánh sử ký thuật lại rằng: "Chúa Jesus ra lệnh cho dân chúng ngồi xuống từng nhóm trên bãi cỏ. Họ ngồi thành từng nhóm 100 hoặc 50 người. Chúa cầm năm ổ bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời cảm tạ Đức Chúa Trời rồi bẻ ra, đưa các môn đệ phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no nê. Các môn đệ đi lượm những mẩu bánh và cá còn thừa, đựng đầy mười hai giỏ." (Mác 6:39-44). Thánh sử cũng ký thuật thế nào những người mù được Chúa Jesus chữa lành: "Kế đó Chúa đến Bết-sai-đa, người ta đem lại một người mù, nài xin Chúa đặt tay chữa lành. Chúa Jesus nắm tay anh mù dắt ra khỏi làng, thoa nước miếng vào mắt, rồi đặt tay lên. Ngài hỏi: “Con thấy gì không?” Anh mù ngước nhìn, đáp: “Thưa có, con thấy người ta chập chờn như cây cối đi qua đi lại.” Chúa lại đặt tay trên mắt anh. Anh mù chăm chú nhìn, mắt liền được sáng, thấy rõ mọi vật." (Mác 8:22-25)

Rất có thể khi nghe đến đây quý vị thắc mắc trong lòng, không hiểu vì sao Chúa dùng phương cách nầy để chữa bịnh cho anh mù? Có thể nào Ngài mở mắt cho anh ta ngay lập tức được không? Dĩ nhiên Chúa có thể làm vì Ngài là Đấng Tạo Hóa toàn năng trong thân xác con người. Chúa có thể chữa lành anh ta ngay cả chữa lành cho cả chúng ta nữa. Sở dĩ Chúa chữa lành anh mù trong trường hợp nầy với qua ba giai đoạn vì Ngài có lý do của Ngài: (1) Giai đoạn thứ nhất ‘tình trạng mù lòa’ để nhắc nhở anh mù và chúng ta là những người đang mù lòa về tâm linh không nhìn biết Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa mình để hết lòng tôn thờ, để tất cả chúng ta đồng thanh với người mù rằng ‘trước tôi mù nay tôi được thấy'. (2) Giai đoạn thứ nhì là ‘thấy lờ mờ’, đây có phải là tình trạng của chúng ta ngày nay không? Như lời của triết gia Paul được ký thuật trong Thánh Kinh rằng: "Ngày nay, ta thấy sự vật phản chiếu qua một tấm gương mờ. Đến ngày ấy, ta sẽ thấy rõ ràng tận mắt. Ngày nay, tôi chỉ biết đôi phần; ngày ấy, tôi sẽ biết tường tận như Chúa biết tôi." (1 Cô-rinh-tô 13:12) Tình trạng ‘lờ mờ’ nầy nhắc nhở mỗi chúng ta mình cần phải nhờ cậy Chúa hơn, xin Ngài mở mắt mình, mở lòng, mở trí mình để nhìn thấy rõ ngài. Xin Chúa giúp chúng ta không có lòng tự phụ như mấy thầy Pha-ri-si, tưởng mình biết hết mọi sự, nhưng thật ra không biết gì cả!

Rất mong qua chương trình phát thanh nầy quý vị càng biết hơn về Chúa và chương trình tuyệt hảo của Ngài hoạch định cho con dân Ngài. Lời của một danh ngôn nhắc nhở chúng ta rằng: "Điều tôi biết chỉ là một hạt cát, còn điều tôi chưa biết là cả sa mạc." Một câu danh ngôn tương tự: "Điều tôi biết chỉ là một ly nước, còn điều tôi chưa biết là cả một đại dương". Và (3) giai đoạn thứ ba ‘thấy trọn vẹn’, trong giai đoạn nầy anh mù thấy rõ ràng và chúng ta sẽ thấy rõ trong thuộc linh khi chúng ta gặp được Chúa, nhìn thấy Chúa trong sự hiện diện của Ngài. Khi Chúa chữa lành cho người mù nầy, Ngài chữa lành một cách trọn vẹn. Như vậy chắc quý vị biết vì sao Chúa dùng phương cách nầy để mở mắt người mù!

Thưa quý vị! Tại thành Bết-sai-đa, Chúa chữa bình cho anh mù trong theo cách này, còn tại thành Giê-ri-cô, Chúa lại chữa lành anh mù ở đó bằng cách khác, Thánh Kinh cho biết tên của anh mù là Ba-ti-mê. Chúa đã không rờ đến anh, Ngài gọi anh ta đến rồi hỏi: “Con muốn Ta giúp gì đây?” Anh mù liền đáp: “Lạy Thầy, xin cho con thấy được!” Chúa bảo: “Con cứ đi, đức tin con đã chữa cho con lành!” Lập tức, Ba-ti-mê được sáng mắt, rồi nhập vào đám đông đi theo Chúa." (Mác 10:53)

Còn đối với một người mù từ thuở mới sanh, Chúa nhổ nước bọt xuống đất, hòa bùn thoa vào mắt người mù, rồi bảo: “Con xuống ao Si-lô-ê rửa mắt cho sạch!” (Giăng 9:6-7) Đây là một phương cách hoàn toàn khác. Chúa Jesus có phương pháp riêng thích hợp cho từng người và mỗi phương pháp đều có bài học quý báu cho mỗi chúng ta. Phép lạ nầy bày tỏ cho mọi người biết Chúa chính là sự sáng của thế gian, Ngài chính là Đức Chúa Trời. Và cũng chính vì điều nầy các nhà lãnh đạo Do Thái tìm cách giết Chúa vì mắt tâm linh của họ đã mù không nhìn biết Ngài. Lúc nầy Chúa âm thầm không cho ai biết Ngài khi Ngài ra khỏi đền thờ vì chưa đến lúc Chúa xuất hiện công khai. Phép lạ nầy minh họa cho bài giảng của Chúa, ‘Ngài là sự sáng của thế gian’, kẻ thù nghịch của Chúa không thể nhìn thấy sự sáng nầy, bởi vì họ bị mù trong phần tâm linh. Những người mù không thể trông thấy được thậm chí sự sáng thế gian là Chúa Jesus đang đứng trước mặt họ. Nhưng rồi Chúa Jesus tự tiết lộ cho người mù nầy. Điều trước tiên để người mù có thể trông thấy là mắt anh ta phải được chữa lành. Ánh sáng phải được tiếp nhận. Ánh sáng soi ra cần phải có người tiếp nhận và cần phải có người ban ra ánh sáng nầy.

Thưa quý vị, thị lực kém không có nghĩa là không có ánh sáng! Ánh sáng tiết lộ về tình trạng của đôi mắt, sự sáng của thế gian tiết lộ tình trạng tâm linh con người. Những người Pha-ri-si tưởng rằng họ nhìn thấy rõ nhưng thật ra họ bị mù. Có một câu chuyện kể lại một tai nạn trong hầm mỏ. Vụ nổ xảy ra khiến cho tất cả các công nhân bị kẹt dưới hầm sâu, bị bóng tối đã phủ trùm. Khi đội cấp cứu đến tìm cách đưa ánh sáng vào trong hầm sâu mọi người đều vui mừng khi nhìn thấy ánh sáng đó. Nhưng có một người la lên: "Tại sao người ta không mở đèn lên?" Câu hỏi nầy khiến cho mọi người đều ngạc nhiên nhìn anh ta. Sau đó họ hiểu ra rằng, chính vụ nổ đó đã làm anh ta mù mắt! Trong bóng tối anh ta đã không biết mình đã bị mù, nay dù có anh sáng anh vẫn không nhìn thấy. Chỉ trong ánh sáng mới có thể bày tỏ cho anh ta và mọi người khác biết rằng anh ta đã bị mù. Chúa Jesus ngụ ý gì khi Ngài phán rằng: “Ta xuống trần gian để giúp kẻ mù được sáng, và cho người sáng biết họ đang mù.” (Giăng 9:39) Sự sáng tiết lộ tình trạng những người thật sự mù có thể biết thực trạng của họ, biết rằng mình thật đã mù lòa. Bóng đêm là tình trạng tăm tối của con người. Còn Chúa là ánh sáng của trần thế, nếu Chúa Jesus không giáng thế làm người nhân loại vẫn chìm trong bóng tối hư vong. 2000 năm trước khi còn ở thế gian Chúa là ánh sáng của thế gian, sau đó Ngài trở về trời sau khi hoàn thành công tác cứu chuộc cho nhân loại. Hiện nay Chúa Jesus đang ngự trên ngai trời và ban ánh sáng cho trần thế, chiếu soi vào lòng người. Những ai mở lòng ra đón nhận ánh sáng của Chúa sẽ được chân lý của Ngài chiếu soi. Lời phán của Chúa chỉ cho chúng ta thấy rằng người nào dù mắt vật lý của họ sáng đến đâu, mà tâm linh của họ bị mù thì thật bất hạnh. Nếu người nào cảm nhận mình mù lòa, đến với Chúa Jesus, xin Ngài thương xót, thì Ngài sẽ mở mắt mở lòng của người để người có cái nhìn thuộc linh sâu sắc hơn.

Trở lại thái độ của những người Pha-ri-si, họ có mắt nhưng họ không thể nhìn thấy, dầu bên ngoài họ là những người ngoan đạo, thông hiểu Kinh luật, nhưng trong lòng họ chẳng những khước từ Chúa Jesus là Cứu Chúa của họ không tiếp nhận Ngài, mà còn ganh tức, tìm cách giết Ngài, vì họ đang ở trong tình trạng mù lòa.

Thưa quý vị! Rất mong quý vị ngay giờ nầy nhận biết tình trạng mù lòa của mình, đến với Chúa Jesus là Đấng giải cứu mình ra khỏi tội lỗi và hỏa ngục. Chúa yêu quý vị, Ngài đã giáng trần ban cho quý vị đem ánh cứu rỗi cho quý vị, mở mắt tâm hồn cho quý vị. Rất mong quý vị đến với Chúa Cứu Thế Jesus và tiếp nhận Chúa ngay giờ nầy.

Kính chào quý vị và các bạn.