Mục sư Tiến sĩ Ngô Minh Quang

Một trong những chứng bệnh gây đớn đau cả thể xác lẫn tinh thần con người là bệnh phong cùi hay là bệnh phung. Vi khuẩn M. Leprae, gây bịnh cùi, được Bác sĩ Gerhard Armauer Hansen, người Na Uy tìm thấy vào năm 1873. Loại vi khuẩn nầy không lây qua vật chủ trung gian vì chúng không có bào tử. Nếu ta đem vi khuẩn nầy ra khỏi cơ thể con người, nó chỉ sống được từ một đến hai ngày.

Da thịt người mắc bệnh phung thường phát nhọt, lở loét. Khi nặng hơn vết thương lõm vào da thịt. Lông mày rụng, mắt lộ ra, thanh quản bị lở khiến người có bệnh có giọng nói khàn khàn. Tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng. Sau đó các bắp thịt tiêu đi, gân cốt co lại khiến cho hai bàn tay co quắp. Ở mức độ nặng ngón tay và ngón chân rụng dần.

Ở nước ta, những người bị nhiễm bệnh nhiều năm về trước thường bị đối xử rất tệ vì những thành kiến sai lầm. Họ bị hất hủi, xa lánh, thậm chí bị ngược đãi, bị bỏ vào rừng, nơi có nhiều thú dữ.

Thực ra chứng bệnh nầy chỉ lây khi tiếp xúc lâu dài với các thể phong nặng như phong ác tính, phong đang tiến triển, chảy mủ nhiều và nơi bị tổn thương, lở loét ở da, ở bàn tay, bàn chân. Còn các thể phong nhẹ khác như phong bất định, phong cùi ít có khả năng lây hơn nhiều.

Tỷ lệ lây bệnh giữa vợ chồng chỉ đến 2-3%. Bệnh không di truyền thì có thể chữa khỏi. Hiện có nhiều loại thuốc điều trị rất có hiệu quả. Trong đó khi dùng thuốc Rifampicine sau 5 ngày sẽ hạn chế khả năng lây lan của vi khuẩn tới 99,9%. Trong quá khứ, nhiều người Việt chết vì mang bệnh nầy. Trong số các nạn nhân đó có nhà thơ nổi tiếng Hàn Mặc Tử.

Hiện nay tại nước ta, con số bệnh nhân phong cùi độ chừng từ 120.000 đến 150.000. Trong số đó chỉ có 23.371 người đã được chữa lành và 18.000 người còn biểu hiện di chứng.

Trong Thánh Kinh, chữ phong cùi hay bệnh phung được nhắc đi nhắc lại hơn 40 lần. Sở dĩ Thánh Kinh nhắc nhiều đến chứng bịnh quái ác nầy vì Đức Chúa Trời muốn nhắc nhở con người về chứng bệnh phong cùi tâm linh còn nguy hiểm, còn độc hại hơn nhiều! Chứng bệnh đó không phải chỉ làm đau đớn thể xác con người trong thời gian ngắn mà còn đọa đày con người suốt cõi đời đời trong hỏa ngục.

Thánh sử ký thuật lại thế nào Đức Chúa Trời đã chỉ rõ cho người Do Thái phải giúp cho người bệnh phong cùi như thế nào. Hễ ai bị mắc chứng bệnh nầy, người đó biết mình phải làm gì: "Nếu người nào thấy trên da mình có chỗ sưng lên, hoặc nổi mụt nhọt, hoặc nổi đốm trắng, thì người ấy phải đến trình với thầy tế lễ A-rôn hoặc một thầy tế lễ con A-rôn, để vị này khám xem người ấy có mắc bệnh phung không. Nếu lông mọc trên chỗ ấy hóa trắng, và nếu chỗ ấy lõm xuống sâu hơn mặt da, đó là bệnh phung. Thầy tế lễ phải tuyên bố người ấy không sạch (có nghĩa là người đó đã mắc bệnh) (Lê-vi Ký 13:2-3)

Còn theo luật của người Do Thái thời xưa, người nào mắc bệnh phung không được lại gần người khác trong vòng 2 thước, dầu đó là thân nhân của mình. Còn trong trường hợp lúc trời giông, có gió, người bệnh phải cách xa người mạnh ít nhất là 50 thước. Người có bệnh chỉ phải sống chung với cộng đồng người có bệnh cho đến chết hay đến khi hết bệnh. Người Do Thái phải áp dụng luật nầy để vi trùng nầy không lây lan cho người khác trong cộng đồng Do Thái.

Thánh sử đã ký thuật lại một người cùi được Chúa Jesus chữa lành: "Khi Chúa xuống núi, có đoàn dân đông đi theo. Một người cùi đến gần, quỳ trước mặt Chúa, nài xin: “Nếu Chúa vui lòng, Chúa có thể chữa cho con lành bệnh.” Chúa Jesus đưa tay sờ người cùi và bảo: “Ta sẵn lòng, lành bệnh đi!” Lập tức bệnh cùi biến mất. Chúa căn dặn: “Con đừng cho ai biết, nhưng cứ đến ngay thầy tế lễ xin khám bệnh và dâng lễ vật như luật pháp Môi-se ấn định, để chứng tỏ cho mọi người biết con được lành.” (Ma-thi-ơ 8:1-4)

Phép lạ chữa bệnh nầy còn nhắc nhở loài người chúng ta rằng Chúa Jesus chẳng những chữa bệnh cùi về phần thể xác, Ngài còn chữa lành bệnh cùi tâm linh, tiêu diệt vi trùng tội lỗi. Chính tội lỗi đã ngăn cách con người khỏi Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa mình. Ngày xưa vua David đã tha thiết khẩn cầu xin Chúa chữa lành căn bệnh của linh hồn vua, nhà vua cầu khẩn rằng:

"Xin Chúa nghiêng tai nghe tiếng con,
Lưu ý đến điều con thầm nguyện.
Lạy Đức Chúa Trời, Vua Chí Cao!
Xin nghe con kêu nài,
Vì con cầu khẩn với Ngài.
Từ sáng sớm, con đà lên tiếng,
Trình bày khẩn nguyện và đợi chờ.
Vì Chúa không hài lòng tội lỗi,
Người ác làm sao sống với Ngài?"
(Thi Thiên 5:1-5)

Thánh Kinh cũng nói rất rõ về sứ mạng của Chúa Jesus, Ngài giáng trần để giải cứu loài người ra khỏi tội lỗi, và đưa những ai tiếp nhận Ngài vào thiên đàng vĩnh phước. Thánh Kinh khẳng định: "Những điều ô uế và những kẻ xấu xa, giả dối không được vào đó, chỉ những người được ghi tên trong Sách Sự Sống của Chiên Con mới được vào thành." (Khải Huyền 21:27)

Triết gia Paul cũng đã nói rõ điều nầy: Vậy anh em được cứu nhờ ân phúc Đức Chúa Trời, do đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Sự cứu rỗi là tặng phẩm của Đức Chúa Trời, chứ không do anh em tự tạo. Không phải là kết quả của công đức anh em, nên chẳng ai có thể khoe khoang. Đức Chúa Trời sáng tạo chúng ta và truyền cho chúng ta sự sống mới trong Chúa Cứu Thế Jesus để chúng ta thực hiện những việc tốt lành Ngài hoạch định từ trước. (Ê-phê-sô 2:8-10) Do tình yêu thương, Đức Chúa Trời đã hoạch định chương trình cho Chúa Cứu Thế Jesus xuống đời nhận chúng ta làm con cái Ngài, theo hảo tâm, thiện ý của Ngài. Chúng ta nên ca ngợi Đức Chúa Trời về ân phúc Ngài ban cho chúng ta, vì chúng ta thuộc về Con yêu dấu của Ngài. Nhờ ân phúc dồi dào đó, chúng ta được cứu chuộc và tha tội do máu Chúa Cứu Thế. Đức Chúa Trời khôn ngoan sáng suốt đã ban ân phúc vô cùng dư dật cho chúng ta. Ngài tiết lộ cho chúng ta biết chương trình huyền nhiệm mà Ngài đã vui lòng hoạch định từ trước. (Ê-phê-sô 1:5-0)

Muốn được Chúa chữa lành căn bệnh tội lỗi, loài người chúng ta phải nhận biết tình trạng khổn khổ, tuyệt vọng của mình, hạ mình xuống ăn năn những lầm lỗi và tội ô của mình đã phạm, xin sự thương xót của Chúa. Thánh Kinh đã ký thuật lại thế nào một tội nhân được tha thứ giống như một chứng bệnh phong cùi hiểm nghèo được Chúa chữa lành.

Thánh Kinh cũng ký thuật lại Tướng Na-a-man, là tư lệnh quân đội Sy-ri, người đã lập được nhiều chiến công nên rất được nhà vua quí chuộng. Tuy là một chiến sĩ dũng cảm, nhưng chẳng may Na-a-man lại mắc bệnh cùi. Nhà của ông có một đầy tớ gái người Do Thái, người mà lính ông bắt về để phục vụ cho vợ ông. Khi hay tin kẻ thù mình bị bệnh cùi, cô ta thay vì cười thầm trong bụng thì lại bày tỏ tình thương với người chủ bắt đắc dĩ nầy. Cô nói: "Thưa bà chủ! Nếu ông chủ đến gặp vị tiên tri ở Sa-ma-ri, tiên tri sẽ chữa lành bệnh cho ông liền." Sau lời giới thiệu của cô gái, viên tướng nầy tâu với vua Sy-ri, nhà vua liền bảo: "Thế thì khanh nên đi và trẫm sẽ viết thư cho vua Do Thái." Vậy, Na-a-man lên đường, mang theo 10 ta-lâng bạc (340 kg bạc), 6.000 đồng vàng, và mười bộ áo. Người đến trình vua Do Thái bức thư của vua mình với nội dung: "Người cầm thư này là Na-a-man, cận thần của ta. Xin vua chữa cho người khỏi bệnh phung." Đọc xong thư, vua Do Thái xé áo: "Ta có phải Đức Chúa Trời đâu để định việc sống chết? Thế mà vua ấy bảo ta chữa cho người phong cùi này! Đúng là chỉ muốn kiếm cớ để gây hấn." Khi Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, nghe vua Do Thái xé áo, liền sai người đến tâu với vua: "Tại sao bệ hạ phải xé áo? Bảo người ấy đến gặp tôi, rồi sẽ biết trong nước Do Thái nầy có một tiên tri." Vậy Na-a-man đến nhà Ê-li-sê, xe ngựa dừng lại trước cửa. Ê-li-sê cho người ra bảo Na-a-man: "Xuống sông Giô-đanh tắm bảy lần thì các vết phung sẽ lành." Na-a-man nổi giận bỏ đi, sừng sộ: "Ta nghĩ ông ấy phải ra đón ta, đứng đó kêu cầu Danh Đức Chúa Trời Hằng Hữu, đưa tay qua lại trên vết phong cùi và chữa cho ta. Hai con sông A-ba-na và Bạt-ba ở Đa-mách không hơn các sông ở Do Thái sao? Tắm sông nhà không sạch được hay sao?" Vậy, ông bỏ đi, tức giận lắm. Các đầy tớ đến bên ông, nói: "Nếu tiên tri bảo cha làm việc gì khó khăn to tát, cha còn có thể làm thay, huống hồ ông ấy chỉ bảo: Tắm thì được sạch." Nghe thế, Na-a-man xuống sông Giô-đanh, hụp xuống nước bảy lần, theo lời người của Đức Chúa Trời. Thịt ông trở thành lành lặn, mịn màng như da thịt một em bé, và bệnh phung lành hẳn. (2 Các Vua 5:1-14)

Viên tướng nầy được Chúa chữa lành bằng cách xuống sông tắm bảy lần.

Theo sách Châm Ngôn, có 7 điều Đức Chúa Trời gớm ghê: (1) Mắt kiêu hãnh, (2) lưỡi gian dối, (3) Bàn tay đẫm máu vô tội, (4) Lòng mưu toan những việc hung tàn, (5) Chân phóng nhanh đến nơi tội ác, (6) (Miệng) Nhân chứng khai gian hại người, (7) (Đầu óc) Kẻ xúi giục anh em tranh chấp (Châm Ngôn 6:6-16)

Sự kiêu ngạo của con người đối nghịch với chương trình của Đức Chúa Trời, khi con người tự kiêu, lấy bụng mình là chúa mình, thay vì hạ mình xuống tôn thờ Đức Chúa Trời, tiếp nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua sự hy sinh chuộc tội của Chúa Cứu Thế Jesus trên thập tự giá 2000 năm trước, con người lại tạo cho mình tôn giáo riêng.

Chuyện của tư lệnh Na-a-man là một thí dụ rất tốt để cho loài người của chúng ta cảm thấy nỗi đớn đau bởi sự kiêu ngạo. Nhưng nhờ những tôi tớ tín cẩn của ông nhìn thấy điều nầy đã tha thiết xin chủ mình rằng: Cha ơi, nếu tiên tri có truyền cho cha một việc khó, cha há chẳng làm sao? Phương chi rày người bảo cha rằng: "Hãy tắm, thì được sạch."

Thưa quý vị,

Nhiều người muốn làm điều lớn lao để được sự cứu rỗi cho chính họ nhưng họ đã hoài công! Sự cứu rỗi không đến từ con người mà đến từ Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi chính là tặng phẩm của Đức Chúa Trời ban cho loài người qua Chúa Cứu Thế Jesus. Chúng ta không cần phải làm chi hết, Chúa Jesus đã làm trọn hết cả cho ta rồi.

Quý vị chỉ cần tiếp nhận Chúa Cứu Thế Jesus, đến với Chúa như người cùi đến nài xin Chúa, như tướng Na-a man vâng phục Chúa bỏ tất cả sự kiêu ngạo, bản tính cũ mình dưới sông, và bước lên bờ với con người mới.

Chúa yêu quý vị. Ngài đã giáng trần ban ơn cứu độ cho quý vị. Rất mong quý vị phủ phục dưới chân Chúa, tiếp nhận Ngài vào tâm hồn, làm chủ đời sống mình ngay giờ nầy.