Mục sư Tiến sĩ Ngô Minh Quang

Ít có ai biết đến Ernesto Miranda. Y đã bị ngồi tù khi còn rất trẻ, bị tòa án thiếu niên bang Arizona Hoa Kỳ xét xử. Ernesto bị kết án với nhiều tội danh: Ăn cướp, tấn công nạn nhân có vũ khí, trộm cắp, mưu toan hãm hiếp v.v… Cảnh sát tin rằng trong người của y có dòng máu háu dâm.

Lần đầu tiên Ernesto bị ra tòa vào ngày 13 tháng 3 năm 1963 với tội danh tấn công tình dục phụ nữ bị bệnh tâm thần, với bản án tù rất nặng từ 20 đến 30 năm, nhưng nhờ có trạng sư biện hộ Ernesto chỉ ngồi tù không quá 10 năm. Sau đó anh ta được trả tự do vào tháng 12 năm 1972, trong thời gian thọ án, Ernesto nhiều lần phải ra hầu tòa.

Sau khi được tự do, tưởng rằng Ernesto sẽ hòa nhập với cuộc sống thường nhật, chịu khó làm việc như bao nhiêu người khác. Nào ngờ anh ta vẫn chứng nào, tật nấy, vẫn hung hăng, bạo động. Ngày 31 thánh Giêng năm 1976, Ernesto lại đánh người trong một quán rượu. Sau khi gây thương tích cho người ấy, Ernesto vào phòng vệ sinh rửa những vết máu trên tay. Nhưng tại nơi đó, Ernesto bị đánh cho đến chết, lúc anh mới 34 tuổi.

Ernesto là một con người xấu xa, độc ác. Nhiều lần y đã trộm cắp, cướp bóc, tấn công tình dục! Lúc sống cũng như lúc gần chết, Ernesto đều hung bạo. Có người cho rằng Ernesto phải gặt những gì mình đã gieo trồng: chết như thế mới đáng!

Hai ngàn năm trước, lúc Chúa Cứu Thế Jesus bị hành hình trên cây thập tự, có hai tên trộm cướp, một tên bị đóng đinh bên phải Ngài, một tên bên trái Ngài. Họ là những tên cướp hung bạo, đã từng giết người, cướp của. Các học giả cho rằng hai tên cướp nầy nằm trong băng đảng của Barabbas. Thánh Kinh cho biết tên cướp Barabbas người được quan tổng đốc Phi-lát phóng thích. Thật ra y được quan trả tự do không phải vì quan thương cho hoàn cảnh tội tù của y. Sở dĩ y được phóng thích vì quan tổng đốc muốn tha cho Chúa Jesus, không muốn hành hình một người vô tội như Chúa. Trong thâm tâm, quan tổng đốc lúc đó nghĩ rằng khi đưa tên tử tội Barabbas ra cùng đứng với Chúa, dân chúng sẽ chọn tha cho Chúa thay vì Barabbas, bởi vì Chúa là một con người đức độ, trong Ngài không có tội gì. Nhưng oái ăm thay, người dân lại chọn tha y, nhưng lại gào thét đòi hành hình Chúa Jesus. Thật ra Chúa Jesus nhận cái chết nhục nhã ấy không phải là bởi ý của họ, hoặc bởi ý của các nhà lãnh đạo Do Thái, mà là thực hiện đúng chương trình cứu rỗi mà Đức Chúa Trời, đã chuẩn bị từ trước! Chính Chúa Jesus, trước đó không lâu, đã nói với quan tổng đốc rằng vì sao Ngài đã sanh ra, vì sao Ngài đã giáng thế. Chính nhờ sự hy sinh của Chúa trên cây thập tự mà những ai tiếp nhận Chúa sẽ được giải cứu ra khỏi tội và án phạt của tội lỗi.

Thánh sử ký thuật lại rằng: "Trên đường giải Chúa ra pháp trường, gặp Si-môn, người xứ Ly-bi vừa từ thôn quê lên Giê-ru-sa-lem, họ liền bắt anh vác cây thập tự cho Chúa Jesus. Một đoàn dân rất đông kéo theo sau; nhiều phụ nữ vừa đi vừa than khóc. Nhưng Chúa Jesus quay lại bảo: “Phụ nữ Giê-ru-sa-lem! Đừng than khóc Ta! Hãy khóc cho bản thân và con cái mình! Vì sắp đến ngày con cái bị coi là điều bất hạnh. Người ta sẽ bảo nhau: Phúc cho phụ nữ chẳng từng thai nghén, chẳng phải lo bú mớm cho con! Người ta sẽ cầu cho núi đè, đất phủ thân mình. Vì nếu họ đối xử với Ta là Cây Hằng Sống thế này, số phận các bà sẽ ra sao?” Hai tử tội cũng bị giải ra pháp trường với Chúa. Đến ngọn đồi Sọ, họ đóng đinh Chúa và hai tử tội trên cây thập tự, một tên bên phải và một tên bên trái Ngài." (Lu-ca 23:32-33)

Có lẽ cả hai tên cướp nầy đều thấy đoàn dân thật đông kéo đến xem cảnh Chúa Jesus bị hành hình. Kế đó họ nghe thấy nhiều phụ nữ vừa đi theo Chúa vừa khóc cho Ngài. Đến khi Chúa Jesus bị treo lên cây thập tự, họ nghe thấy bọn lính La-mã đóng đinh Chúa Jesus trên cây gỗ, rồi chế giễu Ngài. Nhiều người không tiếc lời chửi rủa Chúa Jesus, và hai tên cũng nầy cũng hùa theo họ mà phỉ báng Chúa, nhưng cả hai không hiểu sao Chúa vẫn im lặng. Họ thấy những tên lính chế nhạo Chúa, những kẻ đi ngang qua giễu cợt Ngài, những nhà lãnh đạo tôn giáo mỉa mai Chúa: "Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Nếu phải Vua dân Do Thái, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự đi, thì chúng ta mới tin. Nó nhờ cậy Đức Chúa Trời; nếu Đức Chúa Trời yêu nó thì bây giờ Ngài phải giải cứu cho, vì nó đã nói rằng: Ta là Con Đức Chúa Trời." (Ma-thi-ơ 27:39-41)

Điều mà tên cướp thứ nhất vô cùng ngạc nhiên là Chúa Jesus thay vì đáp trả bằng sự giận dữ căm hờn những kẻ chửi rủa chà đạp Ngài, Chúa lại bày tỏ lòng nhân từ, cầu nguyện rằng: “Thưa Cha, xin tha tội cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì.” (Lu-ca 23:34) Chính lời cầu nguyện nầy đã thay đổi thái độ của anh ta. Trong khi bạn của anh là tên cướp thứ nhì vẫn tiếp tục nhiếc móc Chúa: “Mi không phải là Chúa Cứu Thế sao? Hãy tự giải thoát và cứu bọn tôi với!” Ngay lúc đó tên cướp thứ nhất nhận ra Chúa Jesus là Cứu Chúa của anh, Ngài chính là Đấng vô tội, là Đức Chúa Trời. Anh trách tên cướp thứ hai: “Bạn không sợ Trời sao? Mặc dù chịu chung một bản án tử hình, nhưng bạn và tôi đền tội thật xứng đáng; còn Ngài có tội gì đâu?” (Lu-ca 23:40-41)

Ngay giờ phút đó tên cướp thứ nhất nhận ra mình là một tội nhân đáng gớm giếc. Anh nhận ra rằng mình không những đã từng tước đoạt tài sản của nạn nhân, mà còn gây thương tích cho họ, gây thảm họa cho gia đình họ. Ánh sáng nào đã giúp tên cướp của giết người nầy nhìn biết Chúa Jesus? Chính ánh sáng tình yêu của Chúa đã chiếu rọi vào nơi sâu kín của lòng anh. Trong thời gian khởi đầu của chức vụ, Chúa đã từng phán rằng: "Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, mà là người đau ốm. Ta đến trần gian không phải để gọi người thánh thiện ăn năn quay về với Đức Chúa Trời, nhưng để kêu gọi kẻ có tội." (Lu-ca 5:31-32)

Tại một Trại Hè của Thiếu Niên Tin Lành trên đất Mỹ, người trại trưởng nhờ ba nhân viên đóng ba vai trong vở kịch ngắn để sau đó các em thiếu niên sẽ diễn lại màn kịch đó. Người thứ nhất thủ vai người vô thần, công việc của anh ta là tấn công Chúa Jesus. Người thứ nhì thủ vai kẻ hoài nghi, công việc của anh ta là đả phá Thánh Kinh. Người thứ ba thủ vai nhà truyền đạo, ra sức thuyết phục hai kẻ chống đối.

Sau khi diễn kịch xong, một trong ba diễn viên nầy vô cùng ngạc nhiên khi thấy các em tụ họp, diễn lại vở kịch vừa rồi. Những em phá phách thường là kẻ tìm cách né tránh công tác, nhưng chúng lại tình nguyện đóng vai người vô thần chống Chúa và kẻ hoài nghi đả phá Thánh Kinh. Nhân viên thuật lại những gì tai nghe, mắt thấy cho ông trại trưởng, là người đã tổ chức cắm trại thiếu niên nhiều lần. Trại trưởng cho biết là mỗi lần tổ chức trại và cho các em đóng lại vở kịch nầy, thì những em phá phách đó đều có cùng một hành động và thái độ như thế!

Cũng giống như những em phá phách, tên cướp thứ nhì hùa theo đám đông chống Chúa, dầu được bạn nhắc nhở, cản ngăn. Tên cướp thứ nhất nói: Về phần chúng ta, chỉ là lẽ công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác. Rồi anh quay lại: “Thưa Chúa Jesus, khi về Nước Chúa, xin nhớ đến con!” Chúa Jesus đáp: “Ta hứa chắc chắn: hôm nay con sẽ ở với Ta trong Thiên đàng!” (Lu-ca 23:42-43)

Dầu trong lúc đớn đau vì những lằn roi trên thân mình, những mũi đinh trên đôi tay, đôi chân, Chúa Jesus đã vui lòng tiếp đón tên cướp thứ nhất và hứa sẽ gặp anh ta ở thiên đàng ngay hôm ấy. Thật tiếc cho tên cướp thứ nhì, đã lạnh lùng trước lời cảnh báo của bạn, không nắm lấy cơ hội có một không hai trong đời. Những nhịp đập của tim anh càng lúc càng mạnh hơn, càng đưa anh vào phần mộ sớm hơn! Hơi thở anh càng lúc càng yếu, xô anh xuống hỏa ngục nhanh hơn!

Trong giờ phút vô cùng nghiêm trọng, đứng trước sự chết, tên cướp thứ nhìn vẫn không tin là có Trời, không tin sẽ có Tòa án chung thẩm ở bên kia thế giới. Để phủ nhận niềm tin, anh tự biện hộ, cho rằng sở dĩ mình ăn cướp vì xã hội bất công, vì lòng người điên đảo!

Khi nghĩ đến nguyên do nào dẫn đến hành vi trộm cướp, có một số người nghĩ rằng vì nghèo ngặt cùng đường “Bần cùng sinh đạo tặc”. Nhưng theo kết quả của một cuộc điều tra cơn bạo loạn tại Nữu Ước vào năm 1977: 45% những kẻ cướp bóc, hôi của là những người có việc làm, chỉ 10% là những người lãnh tiền trợ cấp chính phủ; Hơn nữa, cũng qua sự tiết lộ cuộc điều tra nầy, những kẻ phá hoại đó đã không cần hay không dùng những gì họ đã cướp bóc, hôi của.

Nguyên do khiến tên cướp đi vào con đường tội ác là vì anh ta không tin có Trời, không tin vào Đấng Tạo Hóa đã sáng tạo anh! Anh không tin Ngài đang hiện hữu. Cho nên dầu được kề cận bên Chúa suốt 6 tiếng đồng hồ, đã chứng kiến bao nhiêu bằng cớ, chứng tỏ Ngài là Cứu Chúa Nhân Loại, Đấng mà mọi người mong chờ, anh vẫn không mở lòng đón nhận Ngài làm Cứu Chúa mình, xin Ngài thương xót anh như bạn anh đã làm.

Thưa quý vị! Còn quý vị thì sao? Dầu rằng quý vị không sống đời vô đạo như anh ta, không phạm trọng tội nào, quý vị có quả quyết rằng mình chưa hề phạm tội không? Thật ra, đã là con người được sinh ra trên trần thế, tất cả chúng ta đều đã phạm tội. Mà hễ có tội thì phải chịu hành phạt. Như lời Thánh Kinh khẳng định: "Nầy, mọi linh hồn đều thuộc về ta; linh hồn của cha cũng như linh hồn của con, đều thuộc về ta; linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết." (Ê-xê-chi-ên 18:4)

Quý vị có bao giờ suy nghĩ đến số phận đời đời của mình không? Quan niệm của tên cướp thứ nhì, nghĩ rằng anh ta là chủ của vận mệnh mình, chủ của linh hồn mình. Anh đã để Chúa Trời ở ngoài đời sống, nhưng tiếc cho anh vì cơ hội đến với Chúa đã hết.

Rất mong quý vị đến với Chúa Jesus, trở về với Đấng Tạo Hóa mình. Chúa hứa rằng: "Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên." (Ê-sai 1:18)

Chúa yêu quý vị, Chúa đã giáng trần vì quý vị, cả thiên đàng Ngài mở ra cho quý vị! Rất mong không một ai trong chúng ta đi vào vết xe đổ của tên cướp thứ nhì, mà đặt đức tin vào Chúa Cứu Thế Jesus, khẩn cầu Chúa đang khi mình còn dịp tiện.

Kính chào quý vị và các bạn.