“Frightened Sparrows” – Alice Gray thuật lại – Tùng Tri lược dịch

Kính thưa quý thính giả,

Luồng gió lạnh thổi về vào một buổi sáng tháng mười hai, trong khi Tú, một cậu bé 9 tuổi, lặn lội trên những con đường ngoằn ngoèo cùng với cha, để tới thăm ông Tám, đang sống một mình trong một căn nhà gỗ nhỏ trên núi. Tú đã ngửi thấy mùi khói trong không khí, cái mùi khói từ ống khói lò sưởi nhà, nên cậu bé biết rằng mình chẳng còn cách nhà ông Tám bao xa nữa. Tú vội kéo hai cái vạt của chiếc mũ len thật chặt qua hai vành tai, mà trong tâm trí, đang thắc mắc không biết căn nhà gỗ nhỏ của ông Tám đang sống ẩn dật trên núi có gì khác lạ không. Những người trong làng nói thật nhiều về ông già kỳ dị sống biệt lập một mình trên núi và có người xầm xì về tính tình khác thường của ông Tám sau khi vợ ông qua đời. Sau khi bà Tám qua đời, chỉ một tháng sau khi hoàn tất việc chôn cất, ông Tám đã bán căn nhà của mình ở tỉnh lỵ, để lên sống ẩn dật trên núi từ đó. Hằng năm, ông chỉ xuống làng vỏn vẹn có hai lần để mua lương thực và các đồ nhu yếu mà thôi.

Khi cha con Tú tới khúc quanh để vào căn nhà gỗ, ông Tám đang đứng trước cửa hiên nhà, nhìn ra phía cha con Tú, như đang ngóng trông một người nào đó đến để làm bầu bạn. Tú hết sức ngạc nhiên khi thấy mặc dầu căn nhà gỗ nhỏ của ông Tám và cái nhà kho cần phải được sơn lại, nhưng mọi sự trong nhà thật là ngăn nắp và trật tự.

Tú thấy rất hãnh diện ở bên cạnh cha và khi được cha giới thiệu, cậu bé tiến về phía trước, bắt tay ông Tám bằng cái xiết tay thật chặt. Cha Tú mang cho ông một giỏ đầy những bánh và mứt mà mẹ Tú tự tay làm lấy ở nhà, và trò chuyện với ông Tám về những chuyển đổi bất ngờ của thời tiết. Sau đó, cha Tú nhỏ nhẹ mời ông cùng đi dự lễ Giáng Sinh với gia đình Tú tại ngôi nhà thờ trong làng trong đêm tới. Đôi mắt già nua của ông Tám dường khi có một đám mây án ngang, khi ông lắc đầu từ chối. Giọng nói của ông Tám nghe dường như khàn hơn, khi ông kể cho cha Tú rằng ông không còn dự lễ Giáng Sinh nữa từ khi vợ ông qua đời. Hơn thế nữa, ông không nghĩ ra được tại sao Thiên Chúa lại phải giáng sinh thành con người. Sau đó, ông cảm ơn cha con Tú đã tới thăm ông và mang cho ông một giỏ quà, đồng thời ông hối thúc cha con Tú phải mau mau xuống núi trước khi cơn bão ập tới.

Buổi chiều hôm ấy, luồng gió bỗng giựt mạnh và trở lạnh đến thấu xương. Ông Tám ở một mình trong căn nhà gỗ trên núi, cho đến khi có những tiếng động lạ, thoi mạnh vào cửa, khiến ông giựt mình choàng tỉnh. Nhìn ra, ông Tám thấy một đàn chim sẻ, run rẩy trong cơn gió ướt lạnh, đang bay tới, lao mình đập đầu vào cửa sổ, như muốn chui vào trong nhà, để tránh cơn bão khắc nghiệt bên ngoài. Biết rằng đàn chim sẻ chắc sẽ chết cóng, nếu không kiếm được một nơi trú ẩn ấm áp qua đêm, người đàn ông ẩn dật trên núi này vội khoác ngay chiếc áo choàng đi săn, chạy về phía nhà kho để mở cửa cho đàn chim sẻ. Ông Tám chống cái cửa nhà kho lên và bật đèn trong nhà kho, hy vọng đàn chim sẻ thấy mà bay vào. Nhưng những con chim sẻ vẫn còn bay loanh quanh bên ngoài, ông Tám bèn rải những hạt bắp gần cửa nhà kho, để dụ dỗ chúng, nhưng những con chim sẻ vẫn còn hoảng sợ, bay tán loạn khắp nơi.

Một cơn mưa tuyết ập tới, xoáy mạnh chung quanh căn nhà kho, trong khi ông Tám ẩn mình trong một góc khuất ngoài sân, chờ đợi những con chim sẻ bay vào trong. Mặc dầu đã cố gắng kiếm mọi cách, nhưng ông Tám không tài nào dụ được những con chim sẻ bay vào trong nhà kho. Những con chim sẻ đang kinh sợ và chẳng có cách nào để cho chúng biết là ông chỉ muốn giúp chúng. Kiệt sức và thất vọng não nề, ông Tám mơ ước rằng giá mà ông cũng là một con chim sẻ như chúng, thì đàn chim sẻ này đâu phải sợ ông. Giá mà ông là một con chim sẻ như chúng, ông sẽ giải thích cho chúng biết là ông không hề muốn hại chúng bao giờ. Ông chỉ muốn chúng được an toàn và có nơi trú ẩn qua cơn bão tố phong ba này.

Đột nhiên, ông Tám nhớ lại những lời nói tương tự như vậy của vợ ông đã từng giải thích cho ông: “Thiên Chúa đã đến trần gian này trong hình hài của một con người vì không còn có cách nào khác để Ngài có thể giải bày là Ngài yêu chúng ta nhiều đến thế nào”. Những giọt lệ chợt lăn dài trên má khi ông Tám đứng nhìn một cách bất lực những con chim sẻ vẫn còn bay tán loạn khắp nơi bên ngoài căn nhà kho.

Trong đêm hôm đó, Tú vẫn còn suy nghĩ miên man về ông Tám và ông sẽ ra sao khi cơn bão lạnh lùng ập tới trên căn nhà gỗ lẻ loi của ông trên núi. Tú hỏi cha nếu sáng hôm sau, mình có thể trở lên trên núi để thăm ông, mà biết đâu, ông Tám có thể đổi ý định muốn đi dự lễ Giáng Sinh không chừng. Cha Tú mỉm cười và nói “Dĩ nhiên là cha con mình sẽ lên thăm ông Tám ngày mai”. Tú trèo lên giường, kéo chiếc mền lên tới tận cằm. Cậu bé cầu nguyện xin Thiên Chúa gởi đến ông Tám một phép lạ, để ông có thể đổi ý, đi dự lễ Giáng Sinh với cha mẹ Tú và với Tú trong đêm mai.

Tú không biết là ngay trong đêm ấy, Cha Thiên Thượng đã nghe và đã trả lời cho lời cầu nguyện chân thành của Tú.

Kính thưa quý thính giả,

Ước mong qua mẫu chuyện ngắn vừa rồi, quý vị đã thấy được một phần nào bản tính yêu thương và tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa nhân từ. Mỗi chúng ta, cũng giống như những con chim sẻ rét mướt, hoảng sợ trước những phong ba bão tố của cuộc đời, bay tán loạn và không biết nơi nào là bến bờ bình an. Tội lỗi đã làm chúng ta mất đi phương hướng và dập vùi chúng ta trong những đớn đau. Tội lỗi làm chúng ta sợ hãi và không dám đến gần với Thiên Chúa. Tệ hại hơn nữa, những triết lý và tôn giáo do con người nặn ra, nghe như cao siêu và thoát tục, nhưng đã bóp méo hoàn toàn hình ảnh của Đấng Tạo Hóa tràn đầy tình thương. Chúng ta, ai cũng nghĩ rằng, Thiên Chúa là Đấng ở xa xa, chỉ chờ chực chúng ta phạm lỗi, là ra tay đoán phạt mà không hề thương xót.

Quý thính giả thân mến,

Tội lỗi và thành kiến thật sâu đậm đã ngăn cách loài người và Thiên Chúa nhân từ. Như một người cha không nỡ tiếp tục đứng nhìn con cái mình ngụp lặn trong tuyệt vọng và đớn đau, Thiên Chúa đã không còn lựa chọn nào khác, nhưng chính Ngài phải từ bỏ thiên đàng sáng chói, tự nguyện giáng trần trong thân xác một con người.

Hài nhi Giê-xu chính là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, là Đấng đã sáng tạo nên mặt trời, mặt trăng, vô số tinh tú, toàn cõi vũ trụ và mọi loài sống. Ngài đã giáng thế qua lòng người trinh nữ Ma-ri tại Bết-lê-hêm cách đây hơn hai ngàn năm. Ngài là Đấng Tạo Hóa uy quyền, nhưng Ngài không đến với tiếng trống, tiếng kèn, tiếng sấm sét, tiếng tung hô vang rền của muôn vàn thiên binh, nhưng Ngài đã giáng thế một cách âm thầm, trong thân xác một hài nhi yếu ớt, như bao trẻ sơ sinh khác, tại một chuồng chiên nhơ nháp tầm thường. Ngài được sinh ra như một con người như mỗi chúng ta, để chúng ta có thể dạn dĩ, để chúng ta có thể đến thật gần, để rờ được Ngài, để thấy được Ngài, để nghe được Ngài và chiêm ngưỡng tình thương của Thiên Chúa qua Ngài, như lời Kinh Thánh có ghi:

“Ban đầu có Chúa Cứu Thế, Chúa Cứu Thế ở với Thượng Đế từ nguyên thủy vì Ngài là Thượng Đế Ngôi Hai. Chúa Cứu Thế đã sáng tạo vạn vật; mọi loài trong vũ trụ đều do tay Chúa tạo nên. Chúa Cứu Thế đã mang lấy hình hài thể xác con người, sinh hoạt giữa chúng ta, đầy tràn ân phúc và chân lý. Chúng tôi đã ngắm nhìn vinh quang rực rỡ của Chúa Cứu Thế, đúng là vinh quang Con Một của Thượng Đế” (Giăng 1:1-3, 14)

Giống như bác Tám nhân hậu trong câu chuyện, không hề muốn làm hại đàn chim sẻ hoảng sợ, nhưng chỉ muốn đem chúng vào nơi ẩn núp an toàn, thì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến với nhân loại, không phải để lên án, nhưng để mang chúng ta trở lại trong tình thương và sự che chở của Thiên Chúa, như Ngài đã từng nhắn nhủ “Lòng các con đừng xao xuyến. Các con đang tin cậy Thượng Đế thể nào, hãy tin Ta thể ấy. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở, nếu không, Ta đã nói cho các con rồi. Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con.” (Giăng 14: 1-2).

Quý thính giả thân mến,

Chúng ta đang bước vào mùa kỷ niệm Cứu Chúa Giê-xu giáng sinh. Vì sao Thiên Chúa phải giáng trần? Vì sao Thiên Chúa phải mang lấy thân xác con người? Một người tội lỗi như tôi và bạn làm sao có thể trở về với Thiên Chúa? Kính mời quý vị và các bạn tiếp tục khám phá về món quà Giê-xu trong những chương trình phát thanh Giáng Sinh vào những tuần tới.

Xin kính chúc quý thính giả một tuần lễ thật an bình.