NextPrevious

“Hãy đặt tên là Giê-xu vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi” (Ma-thi-ơ 1:21)

Quý thính giả thân mến,

Thiên Chúa đã lựa chọn trinh nữ Ma-ri trong trắng và chàng Giô-sép nhân từ để phó thác Con Độc Sanh của Ngài. Thiên Chúa đã lựa chọn hai người tuy đơn sơ, nhưng biết kính sợ và vâng lời Ngài, để từ đó, Chúa Cứu Thế giáng trần, cứu chuộc nhân loại ra khỏi hình phạt đời đời của tội lỗi. Thiên sứ Gáp-ri-ên đã được sai đi với trọng trách báo tin cho cho cả Ma-ri và Giô-sép. Nàng trinh nữ Ma-ri đã vâng theo ý muốn Thiên Chúa và đang mang thai do quyền năng mầu nhiệm của Đấng Tạo Hóa.

Trong lúc đó, hoàng đế Augustus ban chiếu chỉ, ra lệnh kiểm tra dân số trong khắp đế quốc La-mã, bắt buộc mọi người phải trở về quê quán để đăng tên vào sổ sách. Việc kiểm tra dân số nhằm mục đích xiết chặt hệ thống thuế khóa, hầu vơ vét thêm nhiều của cải tài nguyên trong các nước bị trị.

Chàng Giô-sép, thuộc dòng tộc vua Đa-vít, buộc phải rời làng Na-xa-rét là nơi chàng và Ma-ri đang sinh sống, để trở về quê quán của mình là thành Bết-lê-hem, cũng còn được gọi là thành Đa-vít. Lúc đó, Ma-ri sắp đến ngày sinh nở và Giô-sép cũng biết rằng chuyến hành trình trở về quê quán sẽ rất vất vả cho nàng, nhưng vì lo lắng cho Ma-ri và bào thai, nên Giô-sép không thể rời nàng nửa bước. Cả hai không còn lựa chọn nào khác, nhưng Giô-sép đã phải dắt dìu Ma-ri trong chuyến hành trình gian khổ với hơn một trăm cây số đường bộ trở về Bết-lê-hem.

Bết-lê-hem mặc dù là quê quán của vua Đa-vít, một vị vua lẫy lừng trong lịch sử dân Do-thái, nhưng trải qua bao thăng trầm sau hơn mười thế kỷ, thì Bết-lê-hem lúc bấy giờ chỉ còn là một cô thôn nhỏ bé, im lìm, với một vài quán trọ đơn sơ, nằm bên ngoài vòng đai của thủ đô Giê-ru-sa-lem khoảng chừng năm dậm đường. Khi lệnh kiểm tra dân số được ban ra, thì ngôi làng đìu hiu vắng lặng này bỗng nhiên lại trở nên ồn ào, tấp nập, vì những người tha phương từ khắp nơi trở về làng Bết-lê-hem, đó là chưa kể các viên chức La-mã cũng có mặt để thực hiện việc đăng ký sổ bộ. Vì vậy, trong đêm Giô-sép và Ma-ri đến thành Bết-lê-hem thì những lữ quán trong làng đã đầy ắp những khách trọ qua đêm. Cũng trong đêm đó, Ma-ri chuyển bụng, nhưng không còn một phòng trọ nào trong lữ quán để làm nơi hài nhi chào đời. Ngay tại tiểu thôn Bết-lê-hem, trinh nữ Ma-ri đã hạ sinh Chúa Cứu Thế trong một chuồng chiên đơn sơ; nàng lấy khăn bọc hài nhi Giê-xu và đặt con trẻ nằm trong máng cỏ. Điều này xảy ra đúng như lời tiên tri Mi-chê loan báo hàng trăm năm trước đó:

“Hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-ta,
Ngươi thật nhỏ trong các chi tộc của Giu-đa,
Nhưng từ nơi ngươi sẽ xuất hiện một người,
Người ấy sẽ thay Ta cai trị dân Y-sơ-ra-ên,
Gốc tích người từ thuở trước, từ những ngày xa xưa.”
(Mi-chê 5:1)

Quý thính giả thân mến,

Không phải trong một cung điện cao sang, hay trong một nơi chăn êm nệm ấm, nhưng trong một chuồng chiên nghèo hèn, hài nhi Giê-xu đã sinh ra đời. Vua Thiên Đàng đã giáng thế, một cách âm thầm, lặng lẽ; hàng ngàn khách trọ qua đường trong đêm ấy, cũng như cư dân trong làng, không một ai hay biết. Đấng tạo dựng vũ trụ, trăng sao và tinh tú, Đấng đã thiết lập địa cầu làm nơi cư trú cho nhân loại, lại được sinh ra như một kẻ không nhà. Ngay từ những giây phút đầu đời, con người Giê-xu đã nếm trải sự hất hủi và khước từ của nhân loại. Không có một phòng trống trong quán trọ dành cho hài nhi Giê-xu. Không có một khoảng trống nào trong tâm hồn và đời sống của mỗi chúng ta dành cho Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng, nuôi nấng và chăm sóc chúng ta mỗi ngày. Dầu vậy, tình yêu của Thiên Chúa vẫn vượt hơn lòng người hững hờ và lạnh nhạt. Con người Giê-xu chấp nhận đến thế gian, phải sinh trong chuồng chiên dơ bẩn và lớn lên như một người không nhà, như Người đã từng mô tả về cuộc đời của chính mình như sau: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Ta không có chỗ gối đầu.” (Lu-ca 9:58).

Chẳng có một căn phòng nào, dù đơn sơ nhất, chúng ta dành cho Người. Nhưng Người đã đến nơi đây, đơn sơ, không nhà, nếm bao tủi nhục, cay đắng, và thậm chí chết đớn đau, nhục nhã, để tặng cho chúng ta chiếc chìa khóa mở vào cánh cửa Thiên Đàng, là nơi cư trú đời đời phước hạnh, như Người đã từng nhắc nhở:

“Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi để sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đi mà sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, thì ta sẽ trở lại, tiếp các ngươi về với ta, hầu cho ta ở đâu, thì các ngươi cũng ở đó.” (Giăng 14:2-3)

Kính thưa quý thính giả,

Giô-sép và Ma-ri, đặt tên cho hài nhi là Giê-xu, theo như lời căn dặn của Thiên sứ, “Hãy đặt tên là Giê-xu vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi” (Ma-thi-ơ 1:21). Giê-xu có nghĩa là “Thiên Chúa cứu” bởi vì con người không tự cứu mình ra khỏi tội được. Giê-xu, trong tiếng Hê-bơ-rơ, là Giô-suê, là tên của vị anh hùng Do thái, một chiến sĩ gan dạ, đã đưa dân Do-thái bị lưu đày, vượt qua sông Giô-đanh, tiến vào vùng đất hứa trù phú, đượm sữa và mật, trút bỏ bao năm tháng cơ cực đọa đày trong kiếp nô lệ ở xứ người. Bởi vậy, tên Giê-xu bao hàm sứ mạng cứu nguy và giải thoát. Vào thời điểm hài nhi Giê-xu sinh ra, tên Giê-xu rất phổ biến trong dân gian, vì Thiên Chúa muốn đem sự cứu rỗi đến cho tất cả mọi người.

Khi hài nhi Giê-xu lớn lên, qua đời sống tràn đầy tình thương và sự chết thế của Người để đền tội cho loài người, tên Giê-xu đã trở thành biệt danh cao quý nhất. Giê-xu, Bánh Từ Trời, Quà Tặng của Thiên Chúa, sự cứu rỗi, niềm hy vọng, sự bình an. Giê-xu, tên gọi đầy trìu mến, qua bao nhiêu thời đại, với bao nhiêu ngôn ngữ, trong những lời nguyện cầu, trong các bài tình ca, thánh nhạc, văn chương, thi phẩm. Giê-xu, danh trên muôn danh, như triết gia Phao-lô cảm nhận và bày tỏ như sau: “Ngoài Chúa Giê-xu, không ai có quyền năng cứu rỗi loài người, vì dưới bầu trời này, chúng ta không thể kêu cầu danh nào khác để được cứu rỗi.” (Công Vụ 4:12)

Quý thính giả thân mến,

Do sự mầu nhiệm và quyền năng của Thiên Chúa, trinh nữ Ma-ri, chưa hề ăn ở với ai, đã mang thai và hạ sinh hài nhi Giê-xu. Đây là sự hạ sinh lạ lùng và kỳ diệu nhất, có một không hai trong suốt lịch sử nhân loại. A-đam là người đàn ông đầu tiên Thiên Chúa dựng nên, rồi sau đó Ngài dựng nên bà Ê-va từ thân thể của A-đam. Kể từ đó, loài người được sản sinh ra qua sự kết hợp của người cha và người mẹ. Trong Thánh sử có nhắc lại một vài lần Thiên Chúa làm phép lạ, cho những phụ nữ đã cao tuổi được có thai với chồng, nhưng sự hạ sinh của Cứu Chúa Giê-xu, vĩnh viễn là lần duy nhất, một trinh nữ, chưa hề ăn ở với ai, mang thai do quyền năng mầu nhiệm của Thiên Chúa và hạ sinh hài nhi.

Sự kiện này cho thấy hài nhi Giê-xu không xuất phát từ loài người, nhưng Người có một gốc tích đời đời, từ trước vô cùng, trước cả muôn loài. Cha mẹ bình thường chỉ có thể sinh ra một con người hữu hạn, nhưng hài nhi Giê-xu chính là Thiên Chúa vô hạn trong thể xác một con người, như tiên tri Mi-chê đã loan báo “Gốc tích Người từ thuở trước, từ những ngày xa xưa” hay như sử gia Giăng đã giải thích “Ban đầu có Chúa Cứu Thế, Chúa Cứu Thế ở với Thượng Đế từ nguyên thủy vì Ngài là Thượng Đế Ngôi Hai” (Giăng 1:1).

Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến từ trời, Người đã giáng trần, đã nhập thế, đã vào đời chứ Người không sinh ra từ trong thế giới này. Cũng vì vậy, mà con người mang tên Giê-xu không nhiễm tội từ tổ tiên như tất cả chúng ta. Người là thánh khiết, vô tội ngay từ lúc lọt lòng, như lời thiên sứ đã loan báo cho Ma-ri “Hài nhi sinh ra sẽ là hài nhi thánh” (Lu-ca 1:35). Đời sống Người không tì, không vết, xứng đáng là của lễ trọn vẹn để chuộc tội cho loài người.

Quý thính giả thân mến,

Tuy là Thiên Chúa Ngôi Hai với gốc tích đời đời vô cùng, nhưng hài nhi Giê-xu được sinh ra cũng bé nhỏ và yếu đuối như bao trẻ sơ sinh khác. Hài nhi Giê-xu cũng cần được cho bú, được bồng ẵm, được chăm sóc. Mặc dù với nguồn gốc vô hạn, nhưng Giê-xu cũng là một con người bằng xương, bằng thịt như tất cả mọi người, cũng biết đói, biết no, bị yếu đau, chịu tật bệnh và Người đã từng trải qua nhiều thử thách, cám dỗ và đau đớn trong đời.

Giê-xu hoàn toàn là một con người như chúng ta, nhưng đời sống Người thì trọn vẹn và vô tội. Do vậy, Người là nhân vật duy nhất, có thể đại diện cả loài người, chết thay, đền nợ tội thế cho cả nhân loại. Người là Thiên Chúa Ngôi Hai, được sinh ra làm người, nếm chịu đớn đau, nhục nhã, hất hủi, để rồi cuối cùng bị chết treo, lãnh bản án phạt đời đời thế cho nhân loại, đúng y như lời tiên tri Ê-sai đã loan báo về sự hạ sinh và chết thế của Người, bảy trăm năm trước khi Người được hạ sinh như sau:

“Người bị người ta khinh bỉ và ruồng bỏ;
Là Người chịu đau khổ và biết sự đau ốm.
Thật, chính Người đã mang những bệnh tật của chúng ta
Và gánh những đau khổ của chúng ta.
Chính Người bị đâm vì sự vi phạm của chúng ta, bị chà đạp vì sự gian ác của chúng ta.
Hình phạt Người chịu để chúng ta được bình an, vết thương Người mang để chúng ta được chữa lành.
Thiên Chúa bằng lòng để Người bị chà đạp và đau đớn
Khi Người dâng mạng sống mình làm tế lễ chuộc tội.
Và nhờ tay Người, ý của Thiên Chúa sẽ được thành đạt.”
(Ê-sai 53:3-10)

NextPrevious