Next

Nguyễn Thanh

Kính thưa quý thính giả,

Người có Tổ như cây có cội, như nước có nguồn. Uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Viết phả là “vĩnh truyền tôn thống”, là “truyền tử nhược tôn” nghĩa là dòng máu của dòng họ chảy về các thế hệ mai sau. Viết phả là “hồi bản phản thủy”, là “báo bản tổ tông” nghĩa là tìm về tổ tiên tông chi họ hàng.

Gia phổ hay gia phả là từ Hán Việt có nhiều loại: có loại gọi là ngọc phả hay ngọc điệp của các vua chúa; nhà dân có gia phả, tộc phả, tông phả, thế phả vv.

Nhà nho Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục định nghĩa gia phả như sau: ”cuốn sổ ghi chép theo thứ tự trước sau và họ tên chức tước ngày tháng sinh tử của tổ tông và người trong nhà gọi là gia phả. Nhà đại gia thì gia phả ghi chép cả công nghiệp sự trạng của tổ tông, mã táng tại đâu cũng có ghi vào quyển gia phả, tức như một quyển sử ký trong nhà”.

Học giả Đào Duy Anh trong Hán Việt tự điển có ghi: “Gia phổ là quyển sách ghi thế hệ trong họ và lịch sử tổ tiên”.

Như thế, truy nguyên nguồn gốc, Phổ là cuốn sổ ghi chép nhân vật nào, thứ loại nào thì gọi là phổ. Gia phổ là sổ gia đình ghi chép tên tuổi người trong họ theo một hệ thống trên dưới, đích thứ, nội ngoại nhất định; niên phổ là sổ chép các năm, thực phổ là sổ chép các món ăn, kỳ phổ là sách dạy đánh cờ, thêm nữa có họa phổ, kiếm phổ, nhạc phổ vv.

Ở Pháp khi nói đến gia phổ, người dân hình dung ra một cây trụi lá có những tên họ nhà vua đóng khung treo trên các cành cây.

Ở Trung quốc xưa, từ khi thi sĩ Âu Dương Tu, một quân sư của triều đại nhà Tống đặt ra thể thức Ngũ đại gọi là Âu thị văn thể thì phần lớn các dòng họ đều theo cách ấy mà soạn ra phả cho họ của mình.

Theo thể thức này thì gia phả của một nhà bắt đầu với một ông Tổ sáng lập mà người nước ta thường gọi là Ông Sơ Tiên Tổ (ông Khởi tổ hay Tị tổ) còn các ông Tổ trung gian ở giữa ông Tổ sáng lập cùng với những cháu chắt của ông trong năm đời đầu tiên.

Xã hội Trung quốc xưa, quy tắc chính yếu là mỗi gia đình đều có một gia tính (họ một Họ riêng) và giữa mỗi người cùng một gia tính không được phép lấy nhau. Luân thường trong gia tộc nước ta thì người cùng một họ nội không được lấy nhau, phạm vào là loạn luân. Còn về họ ngoại thì con cô con cậu hay là đôi con dì cũng không được lấy nhau. Tuy nhiên từ bậc cháu trở đi thì không cấm nữa.

Tác giả Phan Huy Chú thời vua Tự Đức trong lịch triều hiến chương loại chí phần văn tịch chí thì nước ta bắt đầu có gia phả từ đời Lý:

- Lý triều ngọc điệp soạn đời Lý Thái Tổ
- Hoàng tông ngọc điệp soạn đời Trần Thánh Tông
- Hoàng Lê ngọc phả soạn đời Lê Cảnh Hưng

Như vậy, trước hết triều đình soạn những sách ngọc điệp, ngọc phả tức gia phả của dòng họ nhà vua rồi sau dân chúng noi theo đó mà soạn phổ hệ từng nhà.

Gia phả chỉ chép một Họ và chỉ thuộc độc nhất một Họ như thường nói: gia quyến, gia bảo, gia nghiêm, gia huấn, gia đạo, gia cảnh vv. Không ai họ Nguyễn đi chép phả họ Trần, họ Lê và ngược lại.

Gia tộc nước ta xưa nay có 2 thứ bậc: một là nhà hay tiểu gia đình theo nghĩa hẹp bao gồm vợ chồng cha mẹ con cái. Gia đình theo nghĩa rộng trong ngôn ngữ thông thường được gọi là Họ (biến âm từ Hán Việt của chữ “Hộ”, cũng có nghĩa là nhà) mang ý nghĩa quần tụ của những người cùng chung ông bà, dòng giống, nói tóm lại là cùng chung một ông tổ sinh ra bất luận nam hay nữ.

Theo nghĩa nầy thì từ Họ tương ứng với từ “Tộc” trong Hán Việt và rồi cả hai được ghép thành một từ kép Họ Tộc hay Tộc Họ. Nếu dịch chính xác ra tiếng Pháp là “Parenté” (họ hàng thân thuộc) hoặc “Clan De Famille” (gia tộc) nhưng thường người ta thích dùng từ “Famille” (gia đình).

Năm đời ở với nhau một nhà gọi là ngũ đại đồng đường, đây là trường hợp hiếm. Bốn nhà cùng ở với nhau một nhà gọi là tứ đại đồng đường. Nếu ta lấy tự bản thân (hay còn gọi là Tự Kỷ) làm đơn vị mà tính lên sẽ có:

- trên ta là cha mẹ gọi là Phụ mẫu.
- trên cha mẹ là Ông Bà gọi là Tổ phụ Tổ mẫu.
- trên Ông Bà là cụ Ông cụ Bà gọi là Tằng tổ phụ, Tằng tổ mẫu.
- trên hai cụ là hai Kỵ, gọi là Cao tổ phụ Cao tổ mẫu.
- trên nữa thì gọi chung là Cao Cao tổ lên mãi đến thủy tổ. Tính từ bản thân ta đến Kỵ là năm đời.

Còn thế nào là chín Họ hay còn gọi là Cửu tộc? Cao, Tằng, Tổ, Phụ, Kỷ Thân chí Tử, Tôn, Tằng, Huyền thị vi Cửu tộc. Thủy tổ viết Tị tổ, viễn tôn viết nhĩ tôn. Phàm hữu khí huyết mạc bất tôn thân nghĩa là Ông Cao, Ông Tằng (tức Cố), ông Tổ (tức Ông Nội), Cha, thân mình đến con cháu, chắc chít, ấy là chín họ.

Ông Thủy Tổ gọi là Ông Tị Tổ, cháu xa đời gọi là nhĩ tôn. Phàm có cùng khí huyết chẳng ai mà chẳng tôn trọng người thân.

Còn thế nào là thân thuộc? Phụ, Mẫu, Phu Phụ, Huynh Đệ, Tỉ Muội, Hôn Tế, Du Lý, Thị Vi Gia Đảng.

Bá Thúc, Cô Dì, Cựu Điệt, Sanh Trượng thị vi nội ngoại thân thích, nghĩa là cha mẹ, vợ chồng, anh em, chị em, dâu rễ, chị em dâu, ấy là người nhà. Bác chú, cô dì, cậu cháu (con chú bác), cháu (con cô cậu), cha vợ ấy là bà con bên nội bên ngoại.

Quý thính giả thân mến,

Thông thường thì người đầu tiên sáng lập ra dòng họ là Ông Sơ tiên tổ (Khởi Tổ), tiếp theo là các ông Tổ các đời kế tiếp như ông Tổ một đời (Đệ nhất tổ khảo), hai đời (Đệ nhị tổ khảo), ba đời (Đệ tam tổ khảo), rồi bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười đời vv.

Đó là tính theo phương pháp thuận, còn ở trong dân gian thì người ta thường chỉ nhớ được đến Ông Tổ ba đời trước mình là cùng nói gì đến các Ông Tổ xa mãi bên trên nếu không có gia phả. Đáng lẽ lấy Ông Tổ cao nhất làm đơn vị thì lại lấy người con làm đơn vị và tính ngược trở lên, bắt đầu từ người con rồi đến người cha và thêm ba hay bốn ông Tổ gần nhất.

Vì quen tính ngược như thế nên trong nhân gian người ta gọi ông nội của mình là Tổ Tam Đại, cụ nội là Tổ Tứ Đại, kỵ nội là Tổ Ngũ Đại, tức là kể con số lớn trước con số nhỏ sau.

Ngày xưa ở nước ta làng nào cũng có vài ba ông Đồ thầy Khóa dạy chữ Nho, ai học qua chữ Hán chút ít cũng dễ dàng chép vài ba cái tên tuổi cha mẹ ông bà, giản dị như thế, mục đích để nhớ những ngày kỷ niệm, khác với những nhà đại gia phải chép nhiều sự nghiệp như Trịnh Gia Thế Phả (Trịnh Kiểm), gia phả Phan Thanh Giản ở Bến Tre, gia phả Nguyễn Đình Chiểu ở Gia Định. Những người Hoa đến xứ ta cũng mang theo tục lệ viết gia phả như họ Mạc ở Triều Tiên vv.

Lúc nền Hán học suy tàn, chữ Việt mới xuất hiện là cơ hội sản sinh một số tộc thư bằng quốc ngữ như gia phả Bùi Viện.

Trên thực tế dù đại đa số gia đình không chép phả, song thật ra họ vẫn duy trì dưới một hình thức khác, đó là Gia phả truyền khẩu, dặn miệng con cháu ngày sinh, ngày tử, tên tuổi, mồ mả, ông bà cụ kỵ, song chỉ tối đa vài ba đời để con cháu nhớ ngày kỷ niệm:

“Ngày mai, tớ hỏng tớ đi ngay,
Giỗ tết từ đây nhớ lấy ngày”.

Quý thính giả thân mến,

Từ thuở xa xưa, loài người đã chịu khó tìm tòi lịch sử nguồn gốc của mình. Câu hỏi “cha mẹ ông bà tôi là ai?” cũng là câu hỏi chung của tất cả mọi người và mỗi cá nhân chúng ta.

Trên phương diện địa lý, người ta muốn tìm biết loài người khởi nguyên từ vùng đất nào trên địa cầu. Trên phương diện lịch sử, người ta muốn biết loài người xuất hiện từ thời nào và phát triển những nền văn minh như thế nào? Trên phương diện khoa học, qua phòng thí nghiệm, các khoa học gia nghiên cứu các nhiễm thể cấu tạo trên các tế bào.

Thật ra sổ “Bộ đời” (hay còn gọi là sổ Hộ tịch) của cả nhân loại là Kinh Thánh, quyển sách chỉ cho chúng ta biết Đấng sinh thành của nhân loại là Đức Chúa Trời mà người nước ta xưa nay gọi là “Trời”, người Trung Hoa gọi là Thiên Chủ, người Nhật gọi là Thái Dương…

Người Tây phương có câu “Con người là một sinh vật có tôn giáo”, người Đông phương có câu: “Thiên sinh vạn vật, hữu nhân tối linh”. Vua Đa-vít Do thái xưa nói “Linh hồn tôi khao khát Chúa như con nai cái thèm khát khe nước”.

Dường như mỗi nền văn hóa, mỗi dân tộc đều có quan niệm riêng về “Trời” nhưng nếu không có sự mặc khải của Đức Chúa Trời qua Kinh Thánh thì những quan niệm đó đều là mơ hồ.

Kinh Thánh Cơ-Đốc giáo, nhất là Kinh Cựu Ước đầy dẫy những sự tích về tông chi kế truyền; có ghi lại phổ hệ (genealogies) thời các tổ phụ (patriarch) và phổ hệ của Chúa Giê-xu.

a/ Sách Sáng Thế ký 5:10 “Nô-ê sanh ba con trai là Sem, Cham và Gia phết”. Gia đình nhỏ của Nô-ê là những người còn sống sót, được Đức Chúa Trời xử dụng để sinh sản loài người khắp mặt đất sau cơn Đại hồng thủy.

b/ Sách Sáng Thế ký 35:23 “Gia cốp có 12 người con trai là Ru-bên trưởng nam; kế đó nửa là Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa...”

Như thế gia đình này có 12 chi (ngành) mỗi người con trai là “Trưởng tộc” mỗi chi phái hợp thành quốc gia được mệnh danh là tuyển dân của Thiên Chúa, là dân Y-sơ-ra-ên.

Y-sơ-ra-ên là tên mới của Gia-cốp, là cháu nội của Áp-ra-ham, thủy tổ đức tin của những ai đặt đúng lòng tin nơi Chúa Cứu Thế, như sách Ga-la-ti 3:7 “Vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra ham”.

Ở xã hội con người, dĩ nhiên sau khi người cha qua đời, các người con nếu có gia đình tách ra thành một tiểu gia đình riêng cũng có đủ quyền hành như người cha thuở trước trong phạm vi của gia đình ấy. Cứ thế nối truyền từ cha đến con, từ con đến cháu, từ cháu đến chắt chút qua bao thế hệ, nhân số cứ lớn dần lên.

Dòng dõi mà Chúa Cứu Thế sanh cũng đã được Đức Chúa Trời dự bị từ thủy tổ đức tin là Áp-ra-ham và Đa-vít. Các lời tiên tri trong Kinh Cựu Ước cho biết Đấng Mê-si-a, là Đấng được xức dầu để làm trọn sứ mạng cứu chuộc nhân loại, sẽ do một người nữ sinh ra (Sáng thế ký 3:15) thuộc dòng dõi Áp-ra-ham (Sáng Thế Ký 22:18), thuộc chi phái Giu đa (Sáng Thế Ký 49:10) và hoàng tộc Đa vít (II Sa-mu-ên 17:12 – 13). Thành phố mà Chúa Cứu Thế sanh ra đã được Kinh Thánh minh định từ 700 năm trước. Nhưng gốc tích của Ngài thì có từ trước vô cùng vì chính Ngài là “Đấng Tạo Hóa” của muôn vật (Mi-chê 5:1).

Kính mời quý vị theo dõi phần tiếp theo của câu chuyện “Gia Phổ” trong thứ bảy tuần tới. Xin hẹn gặp lại quý vị.

Next