Previous

Nguyễn Thanh

Kính thưa quý thính giả,

Theo truyền thống xã hội Á Đông cũng như nhiều xã hội khác, một trong những thẩm quyền rất cao của cha mẹ là đặt tên cho con cái. Khi một gia đình sanh con thì cha mẹ là người có thẩm quyền chọn đặt cho con mình một cái tên gọi, rồi họ cố gắng nuôi nấng dạy dỗ đứa trẻ giống như cái tên mơ ước đó.

Người Do Thái xưa không có lệ kỵ húy “tử bất phụ danh”, theo tục lệ của họ, tên con trai sẽ được chọn đặt theo tên người cha - tức là nối danh liền đời (phụ tử liên danh) hay theo tên người trong họ hàng - tức là nối danh cách đời (tổ tông liên danh).

Cha mẹ Ngài (dưỡng phụ Giô-sép và bà Ma-ri) “tuân giữ” luật pháp bằng cách thực hiện cho con mình tất cả mọi lễ nghi (nghi thức) quy định cho một con trai Do Thái: phép cắt bì, dâng con, chuộc tội…

Nhưng trên hết, cha mẹ Ngài “vâng lời” Đức Chúa Trời đặt tên Ngài là Giê-xu, theo như sách Lu-ca 2:21 có chép lại như sau: “Đến ngày thứ tám là ngày phải làm phép cắt bì cho con trẻ thì họ đặt tên là Giê-xu, là tên thiên sứ đã đặt cho trước khi chịu cưu mang trong lòng mẹ”.

Danh hiệu Giê-xu có nghĩa là Đấng Cứu Rỗi và xuất xứ từ tên gọi theo tiếng Do Thái xưa là Jeshua hay Giô-suê. Có nhiều bé trai Do Thái mang tên Giô-suê hoặc Giê-xu theo tiếng Hy Lạp (Greek) nhưng con trai do trinh nữ Ma-ri sinh ra được gọi là JESUS CHRIST. Sử gia Josephus người Do Thái cũng cho ta biết đương thời có ít nhất 12 người có tên Jesus.

Từ ngữ CHRIST người Trung Hoa phiên âm là “Ký Tốc”, người Tin Lành phiên âm là “Cơ-đốc”, người Công giáo phiên âm là “Ky-Tô” và có nghĩa là Đấng chịu xức dầu. Dưới hình thức động từ thì danh hiệu này có nghĩa “Chức vụ được biệt riêng ra để làm thầy tế lễ, tiên tri hoặc vua”.

Chữ Christ trong Kinh Thánh Cựu Ước là Đấng Mê-si-a theo tiếng Do Thái xưa, còn Christ là tiếng Hy Lạp (Greek), ngôn ngữ được dùng để chép Kinh Thánh Tân Ước.

Bộ Tân Ước Hy văn dịch chữ ấy bằng từ ngữ CHRISTOS có cùng một ý nghĩa, do đó từ ngữ ấy đã trở thành một “danh từ riêng” áp dụng cho Đấng vốn là Đức Chúa Trời nhưng đã trở thành người làm ứng nghiệm trọn vẹn ý nghĩa ấy.

Kinh Thánh Cơ-đốc-giáo nêu ra trên 100 danh hiệu (tên) của Ngài nhưng nhân loại vẫn không thể biết hết. Sách Khải Thị 19:12 có chép “Mắt Ngài như ngọn lửa, trên đầu có mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được’; nhưng có một danh mà mọi người phải biết: “VUA CỦA CÁC VUA VÀ CHÚA CỦA CÁC CHÚA” nghe đến danh thì mọi đầu gối trên trời và dưới đất phải quỳ xuống.”

Ở xã hội loài người, chức danh chính của tên họ là để nhận diện, để phân biệt. Các tác giả Tân ước nhiều lần sử dụng cụm từ “GIÊ-XU Ở NA-XA-RÉT” và chính Chúa khi phán với Sau-lơ trên đường tới thành Đa-mách như sau “Ta là Giê-xu ở Na xa rét”, còn tổng đốc Phi-lát khi viết danh Giê-xu trên cây thập tự, cũng như khi các thiên sứ khi trấn an hai người đàn bà trước mộ trống cũng dùng cụm từ “Giê-xu ở Na-xa-rét”.

Giê-xu là nhân danh, Na-xa-rét là địa danh. Trong văn học Việt Nam cũng có việc tạo tên bằng cách ghép địa danh và nhân danh như thời nhà Nguyễn có Tam Nguyên Yên Đỗ là Nguyễn Khuyến, ông đỗ đầu ba kỳ thi Hương, thi Hội và Đình và ông là người làng Yên Đỗ đễ phân biệt với Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Lý Tăng người làng Vị Xuyên cùng quê với Tú Xương.

Kính thưa quý thính giả,

Người Do Thái rất chú trọng đến gia phả vì nếu không có gia phả họ không thể nào xác định tư cách thành viên trong chi phái tông tộc của mình hoặc quyền thừa kế tài sản, quyền chuộc lại tài sản, quyền thế tập. Khi bàn đến nguồn gốc nhân loại của Chúa Giê-xu, thì các sách trong Kinh Thánh có ghi như sau:

Sách Ma-thi-ơ 1:1 “Gia phổ Đức Chúa Giê-xu Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham”.
Sách Ma-thi-ơ 1:2 “Áp-ra-ham sanh Y-sác, Y-sác sanh Gia-cốp, Gia-cốp sanh Giu-đa và sanh con người”.
Sách Ma-thi-ơ 1:6 ‘Gie-sê sanh Đa-vít, Đa-vít sanh Sa-lô-môn’.
Sách Ma-thi-ơ 1:16 ‘Gia-cốp sanh Giô-sép là chồng Ma-ri, Ma-ri là người sanh Đức Chúa Giê-xu gọi là Christ’
Sách Ma-thi-ơ 1:18 ‘Khi Ma-ri, mẹ Ngài hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau thì người đã chịu thai bởi Đức Thánh Linh’

Tác giả Phúc Âm Ma-thi-ơ ghi lại phổ lệ Chúa Giê-xu theo phương pháp ‘thuận’, bắt đầu từ ‘đơn vị’ xa xưa nhất: thủy tổ đức tin Áp-ra-ham xuôi dòng thời gian đến Chúa Giê-xu là viễn tôn, cháu xa đời của ông.

Còn tác giả Phúc âm Lu-ca viết phả theo phương pháp ‘nghịch’ bắt đầu từ đơn vị ‘gần nhất’: Chúa Giê-xu ngược dòng thời gian trở về A-đam là thủy tổ của nhân loại.

Sách Lu-ca 3:23 ‘Khi Đức Chúa Giê-xu khởi sự làm chức vụ mình thì Ngài có độ 30 tuổi. Theo ý người ta tin thì Ngài là con Giô-sép, Giô-sép con Hê-li…’
Sách Lu-ca 3:31 ‘…Nathan con Đa-vít, Đa-vít con Gie-sê…’
Sách Lu-ca 3:38 ‘….Sết con A-đam, A-đam con Đức Chúa Trời’

Chúng ta để ý thấy từ ngữ ‘con’ ở đây cũng bao gồm ý nghĩa hậu duệ vì những danh xưng Họ Hàng không được phong phú như trong ngôn ngữ Việt Hoa. Nếu nối kết phần đầu câu 23 và phần cuối câu 38 trong một vòng chuỗi liên châu (short circuit) ta thấy Chúa Giê-xu chính là con Đức Chúa Trời.

Nhìn chung tác giả Ma-thi-ơ cho thấy phổ hệ của Chúa Giê-xu thông qua người cha nuôi (pháp lý) Giô-sép và trong nguyên họ hàng tông tộc qua vua Sa-lô-môn, con vua Đa-vít và hoàng hậu Bát-sê-ba. Còn tác giả Lu-ca cho thấy phổ hệ của Ngài qua trinh nữ Ma-ri va trong nguyên ‘họ hàng tông tộc qua Na-than, hoàng đệ vua Sa-lô-môn, tức là một người con trai khác với vua Đa-vít.

Tên người phụ nữ ít khi thấy trong các bản gia phả chính thức vì quan niệm trọng nam khinh nữ’ và câu Lu-ca 3:23 ’theo ý người ta tin thì Ngài là con Giô-sép, Giô-sép con Hê-li…’ có thể được giải thích: ’Ngài là con Giô-sép, Giô-sép con Hê-li và Hê-li là ‘tổ tiên’ của Ma-ri; hay nói cách khác Hê-li là nhạc phụ của Giô-sép. Như thế cả hai Giô-sép và Ma-ri đều thuộc về hoàng tộc Đa-vít. Các lời tiên tri trong Cựu ước được ứng nghiệm.

Theo như sách tiên tri Ê-sai 7:14 có chép ‘Nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai sanh con trai và đặt tên là Em-ma-nu-ên nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta’. Hằng năm nhân loại kỷ niệm Lễ Giáng Sanh hay Christmas tức là mừng sinh nhật Chúa Cứu Thế, người Pháp gọi lễ này là NOEL (NÔ ÊN), một biến âm của từ ngữ Emmanuel.

Quý thính giả thân mến,

Khi bàn về nguồn gốc thiên thượng của Chúa Giê-xu, các sách trong Kinh Thánh có ghi như sau:

Sách Phúc Âm Ma-thi-ơ 1:16 và 1:18 nói rõ ràng sự ra đời của Chúa Giê-xu khác hẳn với sự ra đời của bất cứ con trai Do Thái nào khác được liệt kê trong bản gia phả. Ma-thi-ơ chỉ rõ ràng Giô-sép không sinh ra Chúa Giê-xu. Đúng hơn Giô-sép là chồng ‘hứa hôn’ của trinh nữ Ma-ri, người đã sanh ra Chúa Giê-xu.

Chúa Giê-xu bởi người mẹ phần xác (biological) sinh ra mà không cần đến người cha phần xác. Mọi em bé chào đời trên thế giới đều là một tạo vật hoàn toàn mới, nhưng Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời hằng hữu (Giăng 1:14) bởi phép lạ của Chúa Thánh Linh, Ngài được hoài thai trong lòng lòng trinh nữ Ma-ri:

Khi Kinh Thánh chép “Một con trẻ đã sinh cho chúng ta” tức là nói về nhân tính của Chúa Giê-xu. Khi Kinh Thánh ghi “Một con trẻ đã ban cho chúng ta” tức là nói về thần tính của Chúa Giê-xu.

Đó là hai bản gia phả cuối cùng trong Kinh Thánh, trong khi Sách Sáng Thế Ký 5:1-32 là bản gia phả đầu tiên trong Kinh Thánh giới thiệu sách về dòng dõi của Adam. Mười thế hệ (generations) được liệt kê ở đây từ khi loài người sa ngã cho đến khi Thiên Chúa đoán phạt loài người bằng cơn nước lụt. Trong những liệt kê gia phả trong sách Sáng Thế Ký, cụm từ ‘rồi ra đời’ được lặp đi lặp lại như một điệp khúc (tám lần) nhắc nhở chúng ta ‘sự chết’ giờ đây đã thống trị nhân loại bởi tội lỗi của Adam.

Sách Hê-bơ-rơ 9:27 cũng chép rằng ‘theo như đã định cho loài người phải chết một lần rồi chịu phán xét’, do vậy không ai có thể thoát khỏi ‘lưỡi hái tử thần’. Sự chết là một công lệ thiên nhiên mà cổ nhân từng cảm nhận: ‘Nhân sinh sự cổ thùy vô tử’. Sự chết không đơn thuần là một sự kiện: ‘Hồn lìa khỏi xác’ mà còn là một vị thần: đây là Tử Thần.

Xưa nay con người cố gắng đi tìm thuốc trường sinh bất tử, kéo dài tuổi thọ, chống lão hóa… nhưng rốt lại phải chào thua! Con người đã đóng phi thuyền vượt qua nhiều vùng không gian bao la nhưng không thể vượt qua ‘vùng cấm địa’ của tử thần. Xác ướp (mummy) của các vì vương Ai Cập rải rác đâu đó trong vùng valley of kings, trong các bảo tàng viện Cairo, Anh, Pháp, Đức, Ý, Úc,… hiện vẫn nằm đó để chờ ngày sống lại, ngày Đấng Mê-si-a trở lại trần gian lần thứ hai.

“Vì ta sống, các ngươi cũng sẽ sống” (Giăng 14:19b) đây là lời tuyên bố loan trọng của Chúa Cứu Thế Giê-xu trước khi Ngài chết và sống lại. Các ‘tín nhân‘ sẽ chết và sống lại như Chúa của họ. Còn các ‘tín nhân’ nào vẫn sống khi Đấng Mê-si-a trở lại trần gian thì sẽ trở thành ‘bất tử’.

Ngay từ đầu, tác giả Ma-thi-ơ đã dùng biểu tượng để chúng ta thấy đặc tính quan trọng nhất trong Phúc Âm Đức Chúa Trời là trong Chúa Cứu Thế Giê-xu mọi bức tường ngăn cách đều bị phá vỡ.

1. Bức tường ngăn cách chủng tộc bị phá vỡ.

Ru-tơ, Ra-háp hai người đàn bà ngoại bang, tức là không phải là người Do thái, nhưng đã tìm được chỗ đứng trong phổ hệ của Chúa Giê-xu. Chân lý hệ trọng là trong dòng huyết báu của Chúa Giê-xu không còn phân biệt giữa người da trắng, da vàng, da đen, da đỏ…

Nếu chúng ta đều được dựng nên từ một “huyết” làm sao chúng ta có thể coi thường và ngược đãi nhau? Vì như vậy chúng ta cũng tự xúc phạm chính mình.

2. Bức tường ngăn cách nam nữ bị phá vỡ:

Sự khinh miệt “nữ nhân ngoại tộc” xưa không còn nữa. Bản gia phả này có đề cập tên một số phụ nữ. Nêu tên phụ nữ trong phổ hệ Do thái là một điều bất thường. Người đàn bà thường không có quyền trước pháp lý nhưng trước mặt Đức Chúa Trời nam nữ đều được quý trọng ngang nhau và quan trọng như nhau đối với mục đích của Ngài.

3. Bức tường tội lỗi bị phá vỡ:

Khi Đức Chúa Trời dựng nên loài người, Ngài truyền sanh khí của ngài vào con người. Sách I Giăng 4:8 có chép “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” Khi con người nhận sanh khí của Đức Chúa Trời cũng là lúc nhận sự yêu thương của Ngài. Yêu thương trong Ngài và yêu thương trong con người đòi hỏi một mối tương giao giữa “Trời” và “người”.

Có ai trong cõi “thế nhân” mà lại không muốn trò truyện thắm thiết với người yêu mình? Song tiếc thay, thủy tổ loài người phạm tội; tội lỗi là bức tường ngăn cách mối tương giao thiêng liêng đó và dẫn đến sự chết đời đời.

Dù trong hiện tại sự chết thể xác vẫn còn tồn tại nhưng “cái nọc sự chết” bị diệt mất nơi “tín nhân” như lời sứ đồ Phao-lô nói trong 1 Cô-rinh-tô 15:35 “Ớ sự chết cái nọc của mày ở đâu?” và ông tiếp tục cái nọc của sự chết là “tội lỗi”; qua sự hy sinh của Giê xu quyền năng, sự chết không thể thống trị trên tâm linh của những ai đặt đúng niềm tin của mình nơi sự chết và sự sống lại của Ngài.

Hơn 2000 năm qua Chúa Giê-xu vẫn đến với từng “linh hồn tội nhân”, gõ cửa từng “tâm hồn cá nhân” (tấm lòng) Ngài đang mời gọi quý vị và gia đình quý vị bước vào đại gia đình Đức Chúa Trời. Xin kính chào quý vị.

Previous