Next
Phát Thanh Hy Vọng

Kính thưa quý thính giả,

Mười hai tháng bận rộn của một năm sắp qua đi, mùa Giáng Sinh lại về một lần nữa, mang đến cho chúng ta những cảm giác thật xao xuyến khó tả. Mùa Giáng Sinh với những cuộc họp mặt, bên cạnh người thân hay bè bạn, để trao nhau những nụ cười và mở những món quà giáng sinh gói trọn cả tấm lòng. Mùa Giáng Sinh với những bài thánh ca êm đềm, thánh thoát, đưa tâm hồn chúng ta rời xa những lao xao trong hiện tại, đem chúng ta trở về một miền trời xa vắng, tĩnh mịch của tiểu thôn Bết-lê-hem đêm nào. Mùa Giáng Sinh với đèn sao lấp lánh, với hình ảnh của chàng Giô-sép mộc mạc, nàng trinh nữ Ma-ri hiền hòa và hài nhi Giê-xu ngây thơ nằm trong máng cỏ, như muốn nhắc nhở cho chúng ta một sự kiện huyền diệu nhất trong dòng lịch sử nhân loại.

Hai từ “giáng thế” và “sinh ra” được kết hợp lại với nhau để có nên từ “giáng sinh”. Trọng tâm của mùa Giáng Sinh chính là hài nhi Giê-xu, hay chính là Con Một của Thiên Chúa, đã giã từ thiên đàng vinh hiển, giáng thế xuống trần và được sinh ra trong thân xác một con người. Vì sao Con Độc Sanh của Thiên Chúa lại phải giáng thế xuống trần? Tại sao Đấng Tạo Hóa lại phải trở nên một loài thọ tạo? Lý do nào Con Trời lại phải lìa xa thiên đàng đẹp đẽ để hạ sinh ra trong thế gian này, trong hình hài một em bé, giữa một chuồng chiên dơ bẩn tồi tàn?

Kinh Thánh, là lời của Thiên Chúa, trình bày thật rõ ràng mục đích giáng sinh của hài nhi Giê-xu như sau: “Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi” (Ma-thi-ơ 1:21)

Quý thính giả thân mến,

Sứ mạng của Chúa Giê-xu là cứu vớt nhân loại, giải thoát tạo vật yêu dấu của Thiên Chúa, ra khỏi những ràng buộc và hệ quả khủng khiếp của tội lỗi. Tội lỗi là gì, nghiêm trọng ra sao đến nỗi Con Trời phải thân chinh giáng thế làm người, chính tay Người phải thực hiện công việc cứu rỗi này? Mùa Giáng Sinh cứ thủy chung trở về với nhân loại trong hơn 2000 năm qua, Thiên Chúa muốn gởi gắm đến cho mỗi chúng ta sứ điệp quan trọng nào đây?

Ước mong mẫu chuyện ngắn sau đây sẽ minh họa một phần nào sự cần thiết của giáng sinh:

“Trong cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ, một gia đình kia có người cha và hai đứa con trai cùng nhập ngũ. Người cha và một đứa con trai chẳng may bị tử trận, khiến cho người con trai còn sống sót trở nên người đàn ông duy nhất trong gia đình để nối dõi. Viên sĩ quan cấp trên thông cảm hoàn cảnh của anh, cho anh nghỉ phép vài hôm để tìm gặp tổng thống hầu xin được giải ngũ.

Khi anh tới được tòa Bạch Ốc, những người lính canh nói với anh rằng: “Không, không, anh không thể gặp tổng thống được. Bộ anh không thấy chiến tranh đang ác liệt sao? Ngài tổng thống đang bận lắm. Anh hãy đi đi, hãy trở về đơn vị của mình và chiến đấu thật dũng cảm!”

Anh này đau khổ lắm, bèn ra một công viên gần đó, ngồi và khóc. Trong lúc đó, một cậu thiếu niên đến gần anh và hỏi: “Này chú ơi, tại sao chú khóc vậy?” Anh lính có người hỏi đến, bèn tâm sự rằng anh có người cha và người anh đã bị tử trận, anh là người đàn ông duy nhất còn sót lại trong gia đình; anh muốn được giải ngũ, quay trở về nhà để giúp đỡ mẹ già và em thơ, trông coi công việc trong nông trại mỗi ngày.

Nghe xong, cậu thiếu niên liền bảo: “Chú hãy đi với tôi”. Rồi cậu dắt tay anh lính đi vào tòa Bạch Ốc, băng qua không biết bao nhiêu trạm gác và cửa kiểm soát, mà những người lính gác không hề cản trở và hỏi một tiếng nào, thậm chí có những sĩ quan cao cấp đứng nghiêm chào khi thấy cậu bé đi qua. Trong khi anh lính còn đang ngạc nhiên sửng sốt, thì cậu bé đã dẫn anh tới ngay trước văn phòng tổng thống và bước ngay vào mà không hề gõ cửa báo trước. Tổng thống Abraham Lincohn, lúc đó đang bàn thảo kế hoạch hành quân với vị bộ trưởng quốc phòng, khi vừa nhìn thấy cậu bé, vội ngẩng đầu lên và hỏi: “Con kiếm ba có chuyện gì không, Todd?”

Cậu bé liền trả lời: “Ba ơi, chú lính này có chuyện thật quan trọng muốn được gặp ba!”

Kính thưa quý thính giả,

Trong câu chuyện vừa rồi, giữa người lính mang nỗi niềm tâm sự và vị tổng thống uy quyền là một khoảng cách vô cùng to lớn, bình thường không có cách gì vượt qua được, nếu không có cậu thiếu niên là con ruột của vị tổng thống tình nguyện làm người dẫn đường cho anh lính. Cũng tương tự như vậy, giữa con người chúng ta và Đấng Tạo Hóa, giữa những khổ đau và thiên đàng phước hạnh; giữa những nỗi cô đơn, tủi nhục và suối nguồn yêu thương; giữa những tạm bợ, dối trá và sự chân, thiện, mỹ vẹn toàn, là một khoảng cách vô tận, mà bình thường, không ai trong chúng ta có thể vượt qua được, cho đến khi Chúa Giê-xu là Con Một của Thiên Chúa, tự nguyện làm một nhịp cầu giữa Trời và người.

Thế nhưng tại sao lại có một khoảng cách bao la giữa Thiên Chúa và loài người? Có phải Đấng Tạo Hóa không quan tâm và chẳng muốn gần gũi với con người chúng ta? Thực ra, chúng ta được dựng nên bởi tình yêu và để trở nên đối tượng yêu thương của Đấng Tạo Hóa. Trong ngôi vườn Ê-đen tuyệt hảo, với các loại cây đẹp đẽ, sinh quả ngon ngọt, Thiên Chúa đã sáng tạo ra hai con người đầu tiên là A-đam và Ê-va. Họ đã tận hưởng tình bạn thật gần gũi và thân mật với Đấng Tạo Hóa. Đắm mình trong tình yêu trọn vẹn và trong suốt, A-đam và Ê-va chưa bao giờ biết thế nào là tủi hờn, khổ đau, xa cách hay mặc cảm, như lời Kinh Thánh có ký thuật rằng: “A-đam và vợ đều trần truồng, nhưng không hổ thẹn” (Sáng Thế Ký 2:25).

Thế nhưng, sau khi A-đam và Ê-va nghe lời dụ dỗ bùi tai của quỷ vương trong lốt con rắn xinh đẹp, phỉnh gạt họ về những vinh quang giả tạo của một cuộc đời gạt bỏ Thiên Chúa, cả hai đã quyết định bội nghịch với Đấng Tạo Hóa, đưa tay hái lấy trái cấm mà ăn. Chính sự bội nghịch của thủy tổ loài người đã gieo tội lỗi vào nhân loại, phá vỡ mối quan hệ giữa con người và Thiên Chúa và dựng nên một khoảng cách vô biên, như lời Kinh Thánh cho biết “Chính lỗi lầm của các ngươi đã phân cách các ngươi với Thiên Chúa các ngươi; chính tội lỗi các ngươi đã khiến Ngài ẩn mặt để khỏi nhìn, khỏi nghe các ngươi.” (Ê-sai 59:2)

Quý thính giả thân mến,

Những hành động như trộm cắp, nói hành, lường gạt, v.v., chỉ là một phần nhỏ của tội lỗi xuất phát từ thái độ và suy nghĩ trong lòng như kiêu ngạo, ganh tị, tham vọng, ích kỷ, thiếu thủy chung, v.v. Tội lỗi không chỉ là những hành động thiếu yêu thương nhưng còn là tình trạng thụ động và lãnh đạm, lẽ ra phải làm mà không làm. Tội lỗi là lý luận để đi ngược lại với đường lối của Thiên Chúa. Tội lỗi đã ăn sâu vào trong bản chất của mỗi người chúng ta, ảnh hưởng trên hành vi, lời nói và suy nghĩ của mọi người, như lời Kinh Thánh khẳng định: “Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa” (Rô-ma 3:23)

Chúng ta thường đùa giỡn rằng tội lỗi là những điều đem đến những lạc thú, nhưng hậu quả cuối cùng của tội lỗi luôn luôn là sự hủy diệt. Thiên Chúa ghét tội vì tội lỗi cản trở dự định tốt lành của Ngài trên đời sống của mỗi người, đem đến lo sợ, cô đơn, khổ đau, mặc cảm, và sự trống vắng vô nghĩa trong cuộc đời. Thiên Chúa ghét tội vì tội lỗi khiến chúng ta đeo đuổi theo những thần tượng giả dối như tiền tài, danh vọng, tôn giáo, triết lý thay vì kính sợ Ngài là chân thần duy nhất. Thiên Chúa ghét tội vì tội lỗi phân ly chúng ta với Ngài, phân cách giữa chúng ta với nhau trong mối quan hệ vợ chồng, bằng hữu, cha mẹ và con cái. Thiên Chúa ghét tội vì Ngài là Đức Chúa Trời trọn vẹn thánh khiết và kỵ tà. Thiên Chúa ghét tội vì Ngài quá yêu mỗi chúng ta. Thiên Chúa ghét tội vì tội lỗi là nguyên nhân của mọi cái chết, mang chúng ta đi xa Ngài vĩnh viễn, đẩy chúng ta xuống một nơi tăm tối đọa đầy cho đến đời đời.

Trong khi chúng ta hoàn toàn bất lực và tuyệt vọng dưới nanh vuốt của tội lỗi, Thiên Chúa Ngôi Hai, cách đây hơn 2000 năm, đã tự nguyện giáng trần để lãnh thế cho chúng ta món nợ tội, mua chuộc chúng ta trở lại Ngài. Để có thể đại diện nhân loại lãnh thế tội lỗi, Con Trời phải trở nên con người như mỗi chúng ta, phải sinh ra như một hài nhi mang tên Giê-xu. Để có thể làm một của lễ chuộc tội trọn vẹn, Đấng Thánh Khiết tuyệt đối phải giáng thế giữa trần gian ô tội này. Con Một của Thiên Chúa đã phải gánh chịu sự sỉ nhục và hy sinh chính mạng sống của mình, để làm một nhịp cầu tình yêu, xóa bỏ đi khoảng cách vô cùng tận giữa chúng ta và Đấng tạo dựng ra mình, như lời Kinh Thánh bày tỏ: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Giăng 3:16)

Niềm Trông Đợi

Kính thưa quý thính giả,

Ngay sau khi thủy tổ của loài người là A-đam và Ê-va bị sa ngã và phạm tội, Thiên Chúa đã lập tức phác họa chương trình cứu rỗi, khi Ngài tuyên bố với con rắn nham hiểm rằng: “Ta sẽ làm cho mầy và người nữ, dòng dõi mầy và dòng dõi người nữ thù nghịch nhau. Người ấy sẽ chà đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân Người” (Sáng Thế Ký 3:15).

Thiên Chúa đã dấy lên dân tộc Israel và sắp đặt chương trình cứu chuộc cho cả nhân loại qua tuyển dân này. Trải qua nhiều thời đại, Ngài đã liên tiếp gởi các sứ giả và tiên tri đến với dân Israel, để loan báo về sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế. Có hơn ba trăm lời dự ngôn về Chúa Giê-xu được ghi bằng tiếng Hê-bơ-rơ trong Kinh Thánh Cựu Ước. Bảy trăm năm mươi năm trước khi hài nhi Giê-xu hạ sinh, tiên tri Ê-sai đã báo trước: “Chính Chúa sẽ cho một dấu lạ: Này, một trinh nữ sẽ chịu thai, sinh một con trai” (Ê-sai 7:14) và tiên tri Mi-chê loan tin về nơi chốn giáng sinh cùng với gốc tích thượng thiên của Con Trời: “Hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-ta, ngươi thật nhỏ trong các chi tộc của Giu-đa, nhưng từ nơi ngươi sẽ xuất hiện một Người… gốc tích Người từ thuở trước, từ những ngày xa xưa” (Mi-ca 5:2)

Thời điểm giáng sinh đã đến với nhân loại cách đây 2008 năm, khi lần đầu tiên trong lịch sử, những nước Âu châu ven bờ Địa Trung Hải, là cái nôi của nền văn minh nhân loại, cùng với các nước Tiểu Á, các nước Trung Đông và một phần Bắc Phi Châu được liên kết với nhau dưới sự cai trị của đế quốc La-mã. Sự nối kết của nhiều quốc gia và và cùng sử dụng ngôn ngữ Hy-lạp là một yếu tố quan trọng để cho chương trình cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Giê-xu được loan báo rộng rãi cho tất cả các quốc gia và dân tộc trên thế giới, thực hiện trọn vẹn sứ mạng cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa.

Tại ngôi làng bé nhỏ Na-xa-rét trong xứ Do-thái, thuộc đế quốc La-mã lúc bấy giờ, có một nàng thiếu nữ đơn sơ, hiền hòa, tên là Ma-ri, được Thiên Chúa lựa chọn, để hạ sinh hài nhi Giê-xu. Ma-ri được cha mẹ cho đính hôn với Giô-sép là một thanh niên cùng làng làm nghề thợ mộc. Như bao cô gái mới lớn và sắp sửa bước vào hôn nhân, Ma-ri chắc đang rất bận rộn để chuẩn bị cho ngày trọng đại nhất của đời mình, thì thình lình một biến cố thật lạ lùng đã xảy đến với nàng, được sử gia Lu-ca ký thuật như sau:

“Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa-rét, thuộc miền Ga-li-lê, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên Giô-sép, thuộc gia tộc Đa-vít; trinh nữ này tên Ma-ri. Vào gặp Ma-ri, thiên sứ nói: “Xin chúc mừng cô, người được hồng phúc, Chúa ở cùng cô!”

Nghe lời chào ấy, Ma-ri rất bối rối, ngẫm nghĩ xem lời chào đó có nghĩa gì. Nhưng thiên sứ tiếp: “Ma-ri, đừng sợ! Vì cô được Đức Chúa Trời ban ân sủng. Này, cô sẽ thụ thai và sinh một trai, và đặt tên là Giê-su. Người con trai đó sẽ nên cao trọng và sẽ được xưng là Con Đấng Chí Cao. Chúa là Đức Chúa Trời sẽ ban cho Ngài ngôi vua Đa-vít, tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; nước Ngài sẽ không bao giờ chấm dứt.”

Ma-ri hỏi: “Tôi còn là trinh nữ, làm sao có việc đó?”

Thiên sứ đáp: “Thánh Linh sẽ giáng trên cô, quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ bao phủ cô, cho nên Con Thánh sinh ra sẽ được xưng là Con Đức Chúa Trời. Kìa, Ê-li-sa-bét, người họ hàng với cô dù trong tuổi già nua, cũng thụ thai đã sáu tháng rồi. Bà này có tiếng là hiếm hoi. Vì không có điều Đức Chúa Trời không làm được!”

Ma-ri nói: “Vâng, con là đầy tớ Chúa, nguyện việc đó xảy đến cho con như lời ông nói!” Rồi thiên sứ rời khỏi Ma-ri” (Lu-ca 1:26–38)

Giô-sép, chàng thợ mộc hiền lành và chân thật, là vị hôn phu của nàng Ma-ri. Chắc hẳn cũng như Ma-ri, chàng đang bận rộn chuẩn bị mọi sự cần thiết, để sau ngày đám cưới, chàng sẽ đưa Ma-ri về nhà mình và cả hai sẽ cùng bắt đầu xây dựng một mái ấm gia đình. Trong khi ngày trọng đại sắp gần kề, thì một sự kiện thật bất ngờ đã xảy đến với chàng; đó là nàng trinh nữ Ma-ri bỗng nhiên lại mang thai. Chàng Giô-sép thật đau đớn vì biết chắc rằng mình không phải là nguyên nhân của cái bào thai đó, cộng thêm với nỗi lo sợ vì những lời đàm tiếu xa gần chắc không sao tránh khỏi. Trong lúc đang tủi hờn và dự định kín đáo từ hôn với Ma-ri, thì một sự kiện siêu nhiên đã xảy đến với chàng, được sử gia Ma-thi-ơ ký thuật như sau:

“Cô Ma-ri đã đính hôn với Giô-sép, nhưng khi còn là trinh nữ, cô chịu thai do Thánh Linh. Giô-sép, vị hôn phu của Ma-ri là người ngay thẳng, quyết định kín đáo từ hôn, vì không nỡ để cô bị sỉ nhục công khai. Đang suy tính việc ấy, Giô-sép bỗng thấy một thiên sứ đến báo mộng: “Giô-sép, con cháu Đa-vít! Đừng ngại cưới Ma-ri làm vợ! Vì cô ấy chịu thai do Thánh Linh. Ma-ri sẽ sinh con trai; hãy đặt tên là Giê-xu vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi.”

Việc xảy ra đúng như lời Thượng Đế đã bảo các nhà tiên tri loan báo:

“Này, một trinh nữ sẽ chịu thai, và sinh hạ một Con trai, đặt tên Em-ma-nu-ên” (có nghĩa là “Thượng Đế ở với chúng ta”)

Giô-sép tỉnh dậy, liền theo lời thiên sứ dặn, cưới vợ về nhà nhưng vợ chồng không ăn ở với nhau cho đến khi Ma-ri sinh con, đặt tên là Giê-xu.” (Ma-thi-ơ 1:18-25)

Kính thưa quý thính giả,

Nàng Ma-ri là trinh nữ, tức là chưa bao giờ ăn ở với ai, nhưng lại thụ thai do quyền năng của Thiên Chúa, là một sự kiện thật diệu kỳ. Thêm nữa, tấm lòng của nàng, sự tin cậy và vâng phục trọn vẹn vào Thiên Chúa, cũng là một điều diệu kỳ không kém. Trong khi tâm hồn Ma-ri đang tràn ngập những ước mơ về một ngày vui và quan trọng nhất đời mình, thì qua lời báo tin của thiên sứ Gáp-ri-ên, nàng trinh nữ chưa là cô dâu, bỗng nhiên phải trở thành một người mẹ. Trong giây phút đối diện với vị thiên sứ đưa tin, chắc hẳn là Ma-ri đã nghĩ đến Giô-sép và những phản ứng đau đớn của chàng khi nghe tin nàng thụ thai. Chắc chắn Ma-ri cũng nghĩ đến những khó khăn khi phải đối diện với gia đình và láng giềng vì bào thai mà nàng sắp nhận lãnh.

Thật phước hạnh thay cho Ma-ri, vì nàng là một người kính sợ Thiên Chúa, thuộc về tuyển dân Y-sơ-ra-ên, là dân tộc kề cận với Ngài, từng chứng kiến bao nhiêu ơn phước và quyền năng của Đấng Tạo Hóa, nên nàng cũng biết rõ rằng, Chúa Cứu Thế phải do một trinh nữ chịu thai và sinh ra, như lời các tiên tri đã loan báo cho dân tộc nàng từ hàng ngàn năm trước. Sau khi trải qua những giây phút đầu tiên bàng hoàng nhận tin, Ma-ri đã nhận ra Thiên Chúa đã lựa chọn chính nàng để Chúa Cứu Thế có thể giáng trần và bước vào đời. Ma-ri đã phó thác mọi sự trong cánh tay quyền năng của Thiên Chúa và thuận phục trọn vẹn.

Quả thật, bào thai trong bụng Ma-ri là do quyền năng Thiên Chúa, vì hài nhi Giê-xu chính là Thiên Chúa Ngôi Hai, là Đấng đã có trước cả vạn vật và sáng tạo nên muôn loài, nay giáng trần hóa thân trong một con người. Con Một của Thiên Chúa, qua bụng dạ của Ma-ri, đã trở nên một con người, hầu có thể đại diện cho cả nhân loại, mà chết thay, đền nợ tội thế cho thế nhân. Chỉ duy Con Một của Thiên Chúa, là Đấng thánh khiết trọn lành, mới có thể trở nên một của tế lễ hoàn hảo và xứng đáng, vì mọi con người sinh ra do sự kết hợp bình thường của cha và mẹ, đều hữu hạn và nhiễm tội, không sao có thể đại diện cho mọi người để lãnh thế tội lỗi cho thế gian được.

Chúng ta cũng cảm phục tấm lòng nhân nghĩa của chàng Giô-sép, đã không vội nóng nảy tìm cách sĩ nhục Ma-ri khi biết được nàng bỗng nhiên thụ thai. Sau khi được thiên sứ giải thích trong giấc mộng, Giô-sép chợt nhận ra Thiên Chúa đã chọn vị hôn thê của mình để Cứu Chúa bước vào thế gian. Lẽ ra bụng dạ của nàng Ma-ri phải mang đứa con đầu tiên cho Giô-sép, nhưng chàng đã thuận phục và nhường bước, để cho chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa được thực hiện.

Qua dân tộc Israel, Thiên Chúa báo trước cho nhân loại về chương trình cứu rỗi của Ngài. Thiên Chúa cũng sắm sẵn những con người với tấm lòng vâng phục trọn vẹn để Chúa Cứu Thế giáng thế làm người. Thiên Chúa cũng nắm giữ vận mệnh lịch sử và lựa chọn thời điểm thích hợp nhất, với đế quốc La-mã hùng mạnh, với hệ thống giao thông chằng chịt và sự thống nhất ngôn ngữ, tin lành cứu chuộc của Chúa Giê-xu sẽ được lan rộng ra cho mọi dân tộc trên thế giới. Lịch sử, hoàn cảnh, con người, tất cả đã được dự định thật chính xác trong từng chi tiết, để chương trình quan trọng nhất của Thiên Chúa, nhằm cứu vớt loài người ra khỏi nanh vuốt tội lỗi, được thực hiện một cách hoàn hảo, y như lời Kinh Thánh đã khẳng định: “Nhưng đúng kỳ đã định, Thượng Đế sai Con Ngài đến, sinh ra do một người nữ và sống dưới luật pháp. Thượng Đế đã định như vậy để Ngài có thể chuộc sự tự do cho những người sống dưới luật pháp và cũng để cho chúng ta có thể trở thành con nuôi Ngài.” (Ga-la-ti 4:4)

Next