Previous

Phát Thanh Hy Vọng

Kính thưa quý thính giả,

Cách đây hơn 20 thế kỷ, thiên sứ Gáp-ri-ên, vị thiên sứ kề cận nhất của Thiên Chúa, đã được sai đi để báo tin cho Ma-ri, một thiếu nữ hiền lành và chân thật, ở tại làng Na-xa-rét, thuộc xứ Do-thái, nằm trong lãnh thổ bao la của đế quốc La-mã hùng mạnh thời bấy giờ, rằng nàng được Thiên Chúa chọn lựa để qua nàng, Chúa Cứu Thế của nhân loại sẽ giáng thế và được sinh ra, để cứu chuộc thế nhân khỏi ách trói buộc của tội lỗi.

Thiên sứ Gáp-ri-ên có cho Ma-ri biết rằng, mặc dù còn là một trinh nữ, nhưng nàng sẽ thụ thai, không phải theo cách thường tình của con người, nhưng do quyền năng của Thiên Chúa, vì Chúa Cứu Thế chính là Thiên Chúa Ngôi Hai với gốc tích từ trước vô cùng. Sau những giây phút đầu tiên nhận tin đầy sợ hãi và bối rối, Ma-ri đã nhận ra vinh dự cao quý được trao cho mình và nàng vui lòng lãnh lấy trọng trách.

Giô-sép, chàng thợ mộc nhân nghĩa và thật thà, người cùng làng mà Ma-ri đã đính hôn, thoạt đầu cũng rất buồn giận vì Ma-ri mang thai thật bất ngờ. Nhưng sau đó, qua sự báo tin và giải thích của thiên sứ trong giấc mộng, chàng đã hoàn toàn thuận phục và làm theo lời căn dặn. Giô-sép đã cưới Ma-ri về làm vợ, nhưng không ăn ở với vợ, cho đến ngày Ma-ri sinh nở.

Trong khi Ma-ri đang mang thai và đã gần đến ngày hạ sinh hài nhi, thì một sự kiện thật bất ngờ đã xảy đến, được bác sĩ Lu-ca tường thuật lại như sau:

“Vào thời ấy, Hoàng Đế Âu-gút-tơ ra chiếu chỉ kiểm tra dân số khắp đế quốc La Mã. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên được thực hiện, khi Qui-ri-ni-u làm thống đốc Sy-ri. Mọi người đều phải về quê quán đăng ký.” (Lu-ca 2:1-2).

Giô-sép, chiếu theo gia phả, thuộc giòng họ của vua Đa-vít là một vị vua lẫy lừng của dân tộc Y-sơ-ra-ên. Do vậy, quê hương gốc tích của chàng thuộc về vùng Bết-lê-hêm, là nơi vua Đa-vít đã sinh ra và lớn lên. Theo lịnh kiểm tra dân số, Giô-sép buộc lòng phải rời làng Na-xa-rét để về quê quán Bết-lê-hem, đem theo Ma-ri với mình, vì chàng lo lắng cho nàng và bào thai trong bụng, cho nên không muốn rời Ma-ri tới nửa bước. Giô-sép đã dìu dắt Ma-ri đang mang thai, rời Na-xa-rét xuôi về nam, trải qua hơn một trăm cây số đường bộ, về đến Bết-lê-hêm để đăng ký tên mình và Ma-ri. Khi vừa về tới nơi thì Ma-ri đã đến hồi sinh nở.

Ngôi làng vắng vẻ Bết-lê-hêm, sau khi lệnh kiểm tra dân số được ban ra, bỗng nhiên trở nên đông đúc và tấp nập hơn những lúc bình thường, vì những hậu tự, con cháu của vua Đa-vít, sau nhiều thế hệ, đã tản lạc khắp nơi để sinh sống và cũng giống như Giô-sép, họ cùng trở về đây để khai tên vào sổ bộ. Một vài quán trọ bé nhỏ trong làng Bết-lê-hêm bỗng nhiên đầy ắp những khách thập phương từ khắp nơi trở về. Giô-sép đã không kiếm được một phòng trống nào trong quán trọ và do vậy, Ma-ri đã phải hạ sinh hài nhi Giê-xu tại một chuồng súc vật, theo như lời ký thuật của sứ đồ Lu-ca như sau:

“Về đến Bê-lê-êm, Ma-ri tới ngày sinh nở. Cô sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc lại, đặt trong máng cỏ, vì nhà quán không còn chỗ trọ” (Lu-ca 2:6-7)

Chương trình cứu rỗi lớn lao do chính tay Thượng Đế hoạch định từ những ngày sáng thế…
Sự giáng sinh của Con Trời do chính vị thiên sứ Gáp-ri-ên cao trọng nhất đưa tin…
Đấng Thần Linh phải trở nên một loài xác thịt…
Đấng Tạo Hóa phải trở nên một loài thọ tạo, trong thân thể của một hài nhi yếu đuối như bao trẻ sơ sinh khác…
Vua Thiên Đàng, phải lìa trời cao vinh hiển, giáng thế thành người, nơi một chuồng súc vật dơ bẩn, tồi tàn, được đặt nằm trong máng cỏ…
Bết-lê-hem, nơi lạnh lùng cô tịch,
Nơi Giê-xu, Con Thánh đã ra đời
Một đêm đông màn sương phủ tuyết rơi
Một hài nhi không có nôi, nệm, áo…
(trích “Đêm Huyền Diệu” của Thái Trịnh)

Trong đêm Cứu Chúa Giê-xu giáng sinh thành người, thiên sứ đã hiện ra và báo tin cho những người chăn chiên ngoài đồng để dẫn đường họ đến tôn thờ Ngài. Sứ đồ Lu-ca tường thuật lại sự kiện này như sau:

Tại miền đó, có mấy bác chăn chiên đang ở ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên. Thình lình, một thiên sứ của Chúa hiện ra, hào quang Chúa chói lòa khắp nơi. Họ vô cùng kinh hãi, nhưng thiên sứ liền trấn an: “Đừng sợ, tôi đến báo cho các anh một tin mừng. Tin này sẽ đem lại niềm vui lớn cho mọi người. Đêm nay, Chúa Cứu Thế, Đấng Cứu Tinh của nhân loại đã ra đời tại thành phố của Đa-vít. Các anh sẽ nhận ra Ngài khi gặp một em bé quấn khăn nằm trong máng cỏ. Thình lình, vô số các thiên sứ hiện ra, hợp với thiên sứ ấy ca ngợi Thượng Đế:

“Vinh quang Chúa phủ tận trời,
Bình an dưới đất cho người được ơn!”

Khi các thiên sứ lên trời, các bác chăn chiên bảo nhau: “Chúng ta hãy tới làng Bết-lê-hem xem chuyện lạ Chúa vừa cho biết!” Họ vội vã đến nơi, gặp Ma-ri, Giô-sép, và thấy Con Trẻ đang nằm trong máng cỏ. Họ liền thuật lại việc vừa xảy ra và những lời thiên sứ nói về Con Trẻ. Mọi người nghe đều ngạc nhiên; riêng Ma-ri ghi nhớ từng chi tiết và suy nghiệm trong lòng. Các bác chăn chiên trở về, ca tụng Thượng Đế về những điều nghe thấy, đúng như lời thiên sứ nói. (Lu-ca 2:8-20)

Quý thính giả thân mến,

Thật là vô cùng ngạc nhiên khi Thiên Chúa lựa chọn những người chăn chiên nghèo khổ ngoài đồng, là những người đầu tiên hơn ai hết, được đón nhận tin vui giáng thế của Cứu Chúa của nhân loại. Theo các tài liệu sử học, các người chăn chiên thời bấy giờ bị xem là những “cặn bã” của xã hội. Họ bị xem là “quân đầu trộm, đuôi cướp”, không tư cách, chẳng đáng tin tưởng, không bao giờ được mời vào chốn công đường để làm chứng. Những con người mạt hạng của xã hội, lại được thiên sứ hiện ra báo tin và trở thành những người đầu tiên trong nhân loại nhận được tin vui, được vinh dự ra mắt thờ phượng Con Trời trong đêm giáng thế. Điều này phản ánh tình yêu vô biên của Thiên Chúa và ơn phước của Ngài trải rộng cho tất cả mọi người, vượt lên trên mọi biên giới, chia cách, quy định, thành kiến của con người, đúng như lời thiên sứ loan báo: “Tin này sẽ đem niềm vui lớn cho mọi người”.

Thiên sứ cũng chỉ cho những người chăn chiên một dấu hiệu để nhận ra hài nhi Giê-xu như sau: “Các anh sẽ nhận ra Ngài khi gặp một em bé quấn khăn nằm trong máng cỏ”. Con Một của Thiên Chúa, Đấng mà các bậc tiên tri vĩ đại như Môi-se và Ê-sai phải quỳ sấp mặt xuống đất khi đến gần, Đấng mà các thiên sứ phải che kín mặt và phủ kín chân khi phải đối diện, giờ đây lại giáng sinh thành người, trong một em bé, đặt nằm trong một máng cỏ, hay chính là một máng gỗ dùng làm máng ăn cho súc vật?

Những người chăn chiên không tìm kiếm một hài nhi nằm trong giường ấm, chăn êm, hay trong cung vàng, điện ngọc, nhưng họ đã tìm thấy Cứu Chúa được đặt nằm trong máng cỏ, như thánh sử đã ký thuật “Họ vội vã đến nơi, gặp Ma-ri, Giô-sép, và thấy Con Trẻ đang nằm trong máng cỏ.”

Chúa Cứu Thế được sinh ra, đặt nằm trong máng cỏ, một nơi chốn thấp hèn nhất, chẳng ai thèm tranh giành hay chiếm đoạt, một xó xỉnh không ai thèm quan tâm. Con Trời phải hạ sinh nằm trong máng cỏ, vì đã từ lâu lắm, lòng người chẳng còn tưởng nhớ đến Đấng Tạo Hóa và trong tâm hồn nhân loại, chẳng có một khoảng trống nào dành cho Ngài.

Hài nhi Giê-xu, nằm trong máng cỏ, sự cao trọng tột đỉnh đã trở nên sự khiêm nhường tột bực. Thiên Chúa sẵn sàng chấp nhận trả mọi giá, cho dầu là sĩ nhục, đau thương và thậm chí cái chết, để mua chuộc loài người đang đắm chìm trong tội lỗi trở lại với Ngài, trở lại với suối yêu thương và nguồn phước hạnh đời đời.

Cứu Chúa của nhân loại, nằm trong máng cỏ, để những người hèn hạ nhất, thấp kém nhất, như những người chăn chiên năm xưa, vẫn đến được với Ngài. Cứu Chúa Giê-xu đã cúi xuống thấp nhất, để dầu cho những người thấp nhất, cũng có thể bước lên trên nhịp cầu tình yêu, mà nối lại mối giao hảo với Đấng Chí Cao đã tạo dựng ra mình.

Thiên Chúa chẳng yêu thương và tiếc một điều gì cho quý vị và tôi, đến nỗi Ngài đành lòng để cho Con Một của Ngài hạ sinh và đặt nằm trong máng cỏ tồi tàn.

Quý vị có nhận ra Con Trời giáng thế, Đấng Cứu Tinh của nhân loại đang nằm trong máng cỏ đê hèn không?

Đêm An Bình

Kính thưa quý thính giả,

Trong đêm Cứu Chúa giáng sinh, những người chăn chiên nghèo khổ ngoài đồng quanh làng Bết-lê-hem, được thiên sứ báo tin đầu tiên hết và chỉ cho họ dấu hiệu để tìm kiếm hài nhi Giê-xu mà thờ lạy.

Bên cạnh những người chăn chiên đơn sơ, còn có những vị khách đến từ phương xa, có thể đã phải băng qua cả một lục địa rộng lớn, vượt qua những sa mạc cát mênh mông, ngày nóng, đêm lạnh, ròng rã trong nhiều tháng trường, tìm đến nơi Con Trời hạ sinh để chiêm ngưỡng và tôn thờ. Các vị khách từ phương xa này là các nhà bác học đến từ Đông phương. Họ là những học giả và khoa học gia lỗi lạc nhất của thế giới thời bấy giờ. Sứ đồ Ma-thi-ơ tường thuật lại sự kiện này như sau:

Chúa Giê-xu giáng sinh tại làng Bết-lê-hem xứ Giu-đê vào đời vua Hê-rốt. Lúc ấy, có mấy nhà bác học từ Đông phương đến thủ đô Giê-ru-sa-lem tìm hỏi: “Vua dân Do-thái mới ra đời hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao Ngài bên Đông phương nên tìm đến thờ phượng Ngài.” (Ma-thi-ơ 2:1–2)

Từ những người chăn chiên nghèo khổ cho đến các bậc thông thái quyền thế và giàu có, đã được Thiên Chúa hướng dẫn bằng những cách khác nhau, để tìm đến thờ lạy Con Trời giáng thế, vì chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa là cho tất cả mọi người. Không chỉ những công dân Israel là tuyển dân của Thiên Chúa được ra mắt Con Trời, nhưng kể cả những người ngoại bang, những dân tộc chưa từng được kế cận với quyền năng và ơn phước của Ngài, cũng được hướng dẫn để tôn thờ Cứu Chúa, vì Giê-xu chính là món quà cứu rỗi cho mọi dân tộc đến từ Trời, như Kinh Thánh có chép “Ngài là ánh sáng soi đường cho các dân không phải Do-thái và đem vinh dự lớn cho dân Ngài, tức dân Y-sơ-ra-ên.” (Lu-ca 2:32)

Lần theo ánh sao dẫn đường, các nhà bác học Đông phương đã vào đến xứ Do thái, đi thẳng đến thủ đô Giê-ru-sa-lem vì họ tin rằng vua Do-thái cũng như triều đình đã biết được tin vui trọng đại này. Câu hỏi đầu tiên của họ là: “Vua dân Do-thái mới ra đời hiện ở đâu?” khiến cho vua Hê-rốt bối rối vì lo ngại cho ngai vàng của mình.

Sử gia Ma-thi-ơ tường thuật về phản ứng và âm mưu thâm độc của vua Hê-rốt nhằm tiêu diệt Cứu Chúa Giê-xu, chuyến hành trình tiếp tục của các nhà bác học cho đến khi họ gặp được Cứu Chúa và sự hướng dẫn của Thiên Chúa nhằm bảo vệ hài nhi Giê-xu và những người có lòng tìm kiếm Ngài, như sau:

Được tin ấy, vua Hê-rốt rất lo ngại; dân chúng thủ đô cũng xôn xao. Vua liền triệu tập các nhà lãnh đạo Do-thái vào triều chất vấn: “Các tiên tri thời xưa có nói Chúa Cứu Thế sẽ sinh tại đâu không?” Họ đáp: “Muôn tâu, tại làng Bết-lê-hem xứ Giu-đê vì có nhà tiên tri đã viết:

“Bê-lê-hem tại xứ Giu-đê không còn là một làng quê tầm thường.
Đã thành trú quán Thiên Vương,
là Người chăn giữ, dẫn đường dân Ta.”

Vua Hê-rốt gọi riêng các nhà bác học, hỏi cho biết đích xác ngày giờ họ nhìn thấy ngôi sao xuất hiện. Rồi vua sai họ đến Bết-lê-hem và căn dặn: “Các ngươi cứ đến đó tìm Ấu Chúa. Khi nào tìm được, nhớ trở về đây báo cáo, để ta cũng đến thờ phượng Ngài.”

Các nhà bác học tiếp tục lên đường. Ngôi sao họ đã thấy bên Đông phương lại mọc lên sáng rực, hướng dẫn họ đến tận nơi Con Trẻ ở. Thấy lại ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng.

Vào đến nhà, thấy Con Trẻ và mẹ Ngài, các nhà bác học liền quỳ xuống thờ lạy Ngài, rồi dâng hiến vàng, trầm hương và nhựa thơm. Thượng Đế bảo họ không được trở lại gặp vua Hê-rốt, nên họ đi đường khác về quê hương” (Ma-thi-ơ 2:3-11)

Kính thưa quý thính giả,

Khi các nhà bác học sang trọng và quyền quý tìm gặp được Giô-sép, Ma-ri và hài nhi Giê-xu, họ đã cung kính quỳ xuống thờ lạy Ấu Chúa và dâng lên món quà quý giá; đó là vàng, trầm hương và nhựa thơm. Các nhà thông thái đã vượt qua bao chặng đường để tìm đến Con Trời mà chiêm bái và dâng lễ vật, chắc hẳn những món quà của họ dâng lên hài nhi Giê-xu có mang những ý nghĩa quan trọng nào đó.

Món quà đầu tiên là vàng, một quý kim không bao giờ bị biến chất. Vàng biểu hiện thần tánh của Cứu Chúa Giê-xu, vì Ngài chính là Thiên Chúa Ngôi Hai hạ sinh trong thân xác con người. Nơi nào có sự hiện diện của Thiên Chúa là vàng được nhắc đến, như tại vườn Ê-đen xinh đẹp, khi tội lỗi chưa phân cách giữa Thiên Chúa và con người, sách Sáng Thế Ký có chép: “Nhánh thứ nhất, Bi-sông, chảy quanh xứ Ha-vi-la, nơi có vàng ròng, nhũ hương và bích ngọc” (Sáng Thế Ký 2:11,12), hay trên thiên đường trong tương lai, nơi con người được trở về với Thiên Chúa, sách Khải Huyền có cho biết: “Tường xây bằng ngọc bích, còn thành bằng vàng ròng trong như thủy tinh” (Khải Huyền 21:18). Trong khi dân Israel còn bị lưu đày trong sa mạc, Thiên Chúa đã ra lệnh cho họ xây dựng Đền Thờ Tạm với những vật dụng trong nơi thánh và nơi chí thánh, như Rương Giao Ước, Bàn Bánh Trần Thiết, Chân Đèn và Bàn Thờ Xông Hương được làm bằng vàng vòng hay được dát vàng ròng, để nhắc nhở sự hiện hữu ngày đêm của Ngài ở giữa dân tộc này. Khi các nhà bác học dâng vàng cho hài nhi Giê-xu, họ đã nhận ra Ấu Chúa chính là Thiên Chúa giáng trần, hiện diện giữa con người, như Kinh Thánh đã khẳng định: “Ban đầu có Chúa Cứu Thế, Chúa Cứu Thế ở với Thượng Đế từ nguyên thủy vì Ngài là Thượng Đế Ngôi Hai... Chúa Cứu Thế đã mang lấy hình hài thể xác con người, sinh hoạt giữa chúng ta, đầy tràn ân phúc và chân lý” (Giăng 1:1,14)

Món quà thứ nhì là trầm hương hay nhũ hương, mà trong tiếng Hê-bơ-rơ đồng nghĩa với “màu trắng” hay “sự trong trắng”, tượng trưng cho sự thánh khiết trọn vẹn của Cứu Chúa Giê-xu. Nhũ hương là bột thơm quý hiếm, được pha trộn theo một công thức đặc biệt, mà các thầy tế lễ thượng phẩm đốt trên Bàn Thờ Xông Hương để dâng lên Thiên Chúa mùi hương ngào ngạt. Đặc điểm của nhũ hương là cháy trọn vẹn và không để thừa lại một cặn bã nào, biểu hiện sự vô tội hoàn toàn của Con Trời. Chúa Giê-xu với gốc tích từ trước vô cùng, được sinh ra bởi nữ đồng trinh Ma-ri, do quyền năng của Thiên Chúa, chứ không bởi tình dục ước muốn thường tình của con người, nên hài nhi Giê-xu không kế thừa tội lỗi của tổ tiên loài người như tất cả chúng ta. Đời sống của Cứu Chúa Giê-xu phản ánh trọn vẹn bản tính yêu thương và thánh khiết tuyệt đối của Chúa Cha, do vậy, chỉ duy Cứu Chúa Giê-xu là của tế lễ trọn vẹn, được Thiên Chúa đẹp lòng và nhận lấy, như chính lời Ngài có phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, làm hài lòng Ta hoàn toàn.” (Ma-thi-ơ 3:17)

Món quà thứ ba là nhựa thơm hay một dược, một loại dược phẩm có mùi thơm và vị cực đắng, được dùng để gây mê, giảm cơn đau cho một bệnh nhân hay được dùng để ướp một xác chết. Một dược với vị đắng, tượng trưng cho nhân tánh và sứ mạng của Cứu Chúa Giê-xu. Ngài là Thiên Chúa Ngôi Hai, nhưng lại trở nên một con người, phải gánh lấy thử thách, bệnh tật, đau thương và kể cả cái chết nhục nhã, để đền tội thế cho mọi người, như lời tiên tri Ê-sai đã viết về Ngài hơn bảy trăm năm trước khi giáng sinh như sau: “Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới. Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng ĐỨC CHÚA đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta.” (Ê-sai 53:3-6)

Quý thính giả thân mến,

Vì tất cả chúng ta đều đã phạm tội, yếu đuối trong tội lỗi và không sao thực hiện trọn vẹn luật công bình của Đấng Tạo Hóa, cho nên Con Trời đã phải giáng thế làm người, hầu có thể chết thay, đền nợ tội thế cho nhân loại, tránh cho chúng ta sự đoán phạt đời đời, như lời Kinh Thánh bày tỏ: “Vì thế chúng ta đã tin Chúa Cứu Thế Giê-xu, để được Thượng Đế tha tội - nhờ đức tin chứ không nhờ luật pháp, vì không có một người nào nhờ giữ luật pháp mà được cứu rỗi” (Ga-la-ti 4:16)

Tiểu thôn Bết-lê-hêm bé nhỏ, trong một đêm yên lặng, cách đây hơn 2000 năm…
Thiên Chúa đã ban tặng cho thế gian Con Một của Ngài, bước vào đời, ở cùng với mỗi chúng ta…
Nhịp cầu tình yêu hạ xuống từ trời, chan chứa lòng xót thương vô hạn…

Đêm hài nhi Giê-xu giáng sinh, đêm an bình ngập tràn cho những tấm lòng khát khao muốn trở lại với Đấng tạo dựng ra mình…

Previous