Kính thưa quý thính giả,
Ông Joseph Bau là một họa sĩ và một nhà văn người Do thái, cư ngụ tại thành phố Tel Aviv, được mọi người tặng cho biệt hiệu là “Nụ Cười Vượt Trên Những Nghịch Cảnh”.
Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Joseph bị Đức quốc xã tống giam trong các trại tù tập trung và ông là một trong số ít người Do thái còn may mắn sống sót qua bao nhiêu cuộc tra tấn và hành quyết tập thể. Là một họa sĩ, Joseph đã ghi lại những kỷ niệm đau thương ngày nào qua các tác phẩm hội họa, nhưng có một điểm đặc biệt là tranh của Joseph không nhấn mạnh những hoàn cảnh tù đày khổ ải, nhưng lại tập trung vào yếu tố hóm hỉnh và niềm vui.
Joseph sinh ra tại Krakow thuộc nước Ba lan vào năm 1920. Chính nhờ được đào tạo trong trường hội họa, nên trong thời gian bị bắt giữ trong các trại tập trung, Đức Quốc Xã đã cho ông sống để làm thợ vẽ cho bọn chúng. Trong thời gian này, Joseph đã gặp cô Rebecca là một người đồng lao, hai người đã yêu nhau và bí mật làm đám cưới trong tù, bất chấp lệnh cấm của Phát xít Đức.
Khi cô con gái Clila của Joseph hỏi ba của mình rằng “Ba có ân hận hay nuối tiếc vì bị giam trong tù không?” thì Joseph trả lời ngay: “Không, ba chẳng hề nuối tiếc, vì nếu ba không bị ở tù thì làm sao ba gặp được mẹ con?” Trong suốt thời gian bị bắt giam, hai vợ chồng Joseph và Rebecca với tài khéo làm giấy tờ giả đã giúp nhiều người Do-thái được sớm trả tự do và cứu sống hơn 400 người Do thái. Có nhiều người thắc mắc tại sao cặp vợ chồng Joseph và Rebecca không làm giấy tờ giả cho chính mình để sớm được thoát cảnh tù đày, thì Joseph cho biết rằng: “Nếu tụi này ra tù, ai sẽ giúp người còn ở lại?”
Joseph luôn sống trong niềm hy vọng, nhận ra những điều tốt lành trong những nghịch cảnh. Sau cuộc chiến, gia đình của Joseph và gia đình bên vợ của ông đã bị Phát xít Đức giết hại, hai vợ chồng đã dắt dìu nhau về sống tại Do-thái và bắt đầu xây dựng một cuộc sống mới, mà không một chút kêu ca hay phàn nàn. Khi có ai đó mất đi niềm hy vọng, họ đến với vợ chồng Joseph và rồi được an ủi và trở nên vui vẻ và bình an. Joseph viết sách và sáng tác tranh. Qua các tác phẩm của ông, người ta nhận ra những hình ảnh cùng khổ bên cạnh những điều thật hóm hỉnh. Các bức tranh của Joseph khiến nhiều người rơi lệ, nhưng cùng một lúc, lại làm người ta không thể nào nhịn cười nỗi!
Joseph tổ chức thật nhiều cuộc triển lãm tranh và ông từng tâm sự với hai cô con gái của mình là Hadasa và Clila rằng, điều ông ao ước nhất là “được nghe tiếng cười” của những người đi thưởng lãm tranh của ông. Chính Clila, cô con gái của Joseph đã khẳng định: “Chính tình thương, niềm hy vọng và óc khôi hài đã giúp cho ba tôi tận hưởng cuộc sống, dầu trong hoàn cảnh nào”.
Quý thính giả thân mến,
Các nhà tâm lý biết rất rõ niềm hy vọng tuyệt đối là yếu tố quyết định để chiến thắng trong các cuộc tranh tài, cho nên các vận động viên tham dự thế vận hội, được huấn luyện thật chu đáo về khả năng và còn được chuẩn bị thật đầy đủ về mặt tinh thần nữa. Các huấn luyện viên cho biết, nếu các vận động viên có một ý tưởng nghi ngờ dầu chỉ nhỏ nhoi thôi trong suy nghĩ, cũng sẽ khiến họ thua cuộc. Các vận động viên này được huấn luyện để luôn luôn nghĩ rằng mình sẽ là vô địch, sẽ chiến thắng, bất chấp kết quả luyện tập của ngày hôm nay ra sao. Họ được rèn luyện để loại bỏ trong suy nghĩ tất cả những nghi ngờ, cho dầu khi phải đối diện với một thực tế tiêu cực nào, thí dụ như bị thương tật trong quá trình luyện tập.
Tuy vậy, niềm hy vọng mà chúng ta đề cập ở đây không hề trốn chạy hay loại bỏ những thực tế đau thương hay những dữ kiện tiêu cực, mà ngược lại, niềm hy vọng thật giúp chúng ta dám nhìn thẳng vào nan đề với một tinh thần lạc quan. Sứ đồ Phao-lô, trong những tháng năm đi truyền giáo, đã gặp rất nhiều thử thách như ông có thuật lại như sau: “Năm lần bị người Do-thái đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục. Ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần chìm tàu, một ngày một đêm lênh đênh giữa biển sâu. Trải qua nhiều cuộc hành trình, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy vì đồng bào, nguy với người nước ngoài, nguy trong thành phố, nguy ngoài sa mạc, nguy trên biển cả, nguy với tín hữu giả mạo; chịu cực nhọc vất vả, thao thức trằn trọc, nhịn ăn cầu nguyện, nhiều khi phải đói khát, rét mướt, trần truồng. Ngoài ra, tôi còn gánh vác trách nhiệm coi sóc tất cả các Hội thánh, hằng ngày nỗi lo âu đè nặng tâm hồn. Có ai yếu đuối mà tôi không yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi không quay quắt như bị tạt dầu sôi?” (2 Cô-rinh-tô 11:24-29). Nhưng cũng thật kỳ diệu, chính sứ đồ Phao-lô, trong lúc bị giam trong tù và bị tra tấn dã man, đã viết thư khích lệ người khác như sau: “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn; tôi xin nhắc lại: hãy vui mừng!” (Phi-líp 4:4).
Niềm hy vọng của sứ đồ Phao-lô không đặt nền tảng trên chính cá nhân của ông, cho rằng mình vô địch và có thể tự vượt lên trên mọi hoàn cảnh. Niềm hy vọng của Phao-lô cũng không đặt nền tảng trên những lời hứa của các chính trị gia, các nhà kinh tế lỗi lạc, các triết gia, các giáo chủ hay bất cứ một nhân vật lỗi lạc nào. Phao-lô vẫn nếm trải những đau đớn của thân xác, sự dày vò trong tâm trí, nhưng ông luôn luôn lạc quan, đến nỗi khích lệ được cả những người khác, vì niềm hy vọng của ông đặt nền tảng trên sự thành tín, tình yêu vô điều kiện và bất biến của Thiên Chúa đã thể hiện trọn vẹn qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Cũng giống như Phao-lô, những ai sống và đặt hy vọng nơi Thiên Chúa sẽ không bao giờ thất vọng, vì Ngài là nguồn duy nhất của mọi ân phước, là nơi ẩn náu an toàn giữa những phong ba, như lời Kinh Thánh có ghi:
Vì Chúa Hằng Hữu là mặt trời nắng ấm,
Là Tấm Khiên che phủ giữa ngàn hoạn nạn,
Là Nguồn Ân Phúc, là Suối Quang Vinh,
Ngài chẳng tiếc ân huệ cho người ngay thẳng.
Lạy Chúa Tể các thiên binh,
Ai nương cậy Ngài đều được phúc lành! (Thi Thiên 84:11-12)
Khác với con người bị giới hạn bởi hoàn cảnh và thời gian, Thiên Chúa là Đấng chủ tể vạn vật, với năng lực vô tận, đủ quyền để thực thi mọi lời hứa tốt lành, ban ơn cho người công bình và cứu vớt người hoạn nạn, như Thi Thiên 146 khẳng định:
Chúa sáng tạo đất trời,
Biển và mọi vật trong biển,
Ngài thành tín muôn đời.
Chúa minh oan người bị áp bức,
Người đói khổ, Chúa ban lương thực,
Ngài giải thoát người bị giam cầm.
Chúa Hằng Hữu mở mắt người mù,
Ngài làm thẳng người cong khom,
Chúa yêu thương người công chính.
Chúa Hằng Hữu bảo vệ khách lạ,
Ngài cứu trợ người góa bụa, mồ côi,
Nhưng lật đổ đường lối kẻ ác.
Chúa Hằng Hữu cai trị vĩnh viễn,
Thượng Đế Si-ôn cầm quyền muôn đời. (Thi Thiên 146: 6 – 10)
Thiên Chúa đã bày tỏ thật trọn vẹn tình yêu vô đối của Ngài đến với nhân loại, cách đây hơn 2000 năm, Thiên Chúa Ngôi Hai đã tự nguyện giáng trần, hạ sinh trong một hài nhi mang tên Giê-xu. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã lớn lên với bản tính nhân lành, nhưng đã bị người ta cáo oan và xử chết đau thương trên cây thập tự. Thực ra, đây là chương trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa, vì Chúa Giê-xu đã giáng sinh để rồi làm của lễ chuộc tội, chết đau thương trên cây thập tự, gánh thay món nợ tội cho nhân loại, trong đó có quý vị và tôi. Tuy vậy, sau khi bị chết và chôn trong mồ ba ngày, Chúa Giê-xu đã chiến thắng tử thần và sống lại vinh quang, vì Ngài chính là Thượng Đế Hằng Sống trong thân xác con người.
Những ai tin nhận vào sự chết thế của Cứu Chúa Giê-xu, được Thiên Chúa tha cho mọi vi phạm và được khôi phục lại địa vị làm con của Đấng Chí Cao. Trong khi nhân loại hoàn toàn bó tay và tuyệt vọng trong tội lỗi, thì sự chết thế của Cứu Chúa Giê-xu mang lại niềm hy vọng giải thoát ra khỏi những hệ quả đời đời của tội lỗi. Trong khi cái chết là niềm thất vọng lớn lao nhất và không sao tránh khỏi cho tất cả mọi người, thì sự phục sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu mang đến niềm hy vọng đắc thắng tử thần cho những ai thuộc về Ngài.
Sự giáng sinh và phục sinh của Cứu Chúa Giê-xu mang lại đặt niềm hy vọng vững chắc về tình yêu bất biến và năng quyền tuyệt đối của Thiên Chúa, như Kinh Thánh luôn nhắc nhở: “Vì Thượng Đế yêu thương nhân loại đến nỗi hy sinh Con Một của Ngài, để tất cả những người tin nhận Con Thượng Đế đều không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh cửu.” (Giăng 3:16).
Kính thưa quý thính giả,
Hy vọng không phải là một cảm giác hay chỉ là một ước muốn suông mà thôi. Hy vọng, theo định nghĩa của Kinh Thánh, là sự trông đợi một cách chắc chắn về những điều tốt đẹp sẽ được thành tựu. Hy vọng là sự nối kết có tính sống còn của một người với Thiên Chúa và sự liên kết sống động đó chỉ có được khi một người nhận ra tình yêu vô đối của Ngài qua sự hy sinh cao quý của Cứu Chúa Giê-xu.
Niềm hy vọng thật là biết rằng Thiên Chúa sẽ thực thi mọi lời hứa phước lành mà Ngài đã bày tỏ trong Kinh Thánh. Hy vọng là nhận biết Thiên Chúa là Đấng Nhân Từ và Ngài chắc chắn sẽ bày tỏ lòng thương xót trên đời sống của quý vị và tôi. Hy vọng là nhận ra Thiên Chúa là Đấng Quyền Năng và chắc chắn không có hoàn cảnh nào quá khó đối với Ngài.
Đó chính là niềm hy vọng mà Phao-lô đã có, đặt trên chứng cớ tình yêu trọn vẹn được thể hiện qua Chúa Giê-xu, như ông đã từng tâm sự: “Thượng Đế đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng hy sinh Con để cứu chúng ta, hẳn Ngài cũng sẽ ban cho chúng ta mọi sự luôn với Con Ngài” (Rô-ma 8:32).
Ước mong chúng ta luôn sống trong niềm hy vọng sống động vì đã nhận ra bằng chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được thể hiện qua món quà vô giá Giê-xu.
Thân chào quý vị và các bạn.