Next
Phát Thanh Hy Vọng

Kính thưa quý thính giả,

Nước Úc đang vào thu. Những giọt mưa thu đầu mùa có đem một ít tươi mát dễ chịu, nhưng nỗi kinh hoàng về mùa hè nóng bức vừa qua vẫn còn in đậm trong tâm trí của người dân, nhất là tại Victoria, nơi đã xảy ra trận cháy rừng kinh hoàng nhất trong lịch sử của tiểu bang này.

Ba năm hạn hán kéo dài, đất đai nứt nẻ, cây rừng khô cằn, sông rạch dần dần biến mất, hồ chứa nước xuống thật thấp, phơi bày đáy hồ đầy sỏi đá. Mùa hè năm 2009 tại tiểu bang Victoria, Úc Đại Lợi, với luồng gió nóng tưởng chừng như bất tận, đã đẩy cột thủy ngân vượt trên 44°C (111.2°F) trong năm ngày liên tiếp, để rồi qua ngày thứ bảy lịch sử, ngày 7 tháng hai năm 2009, mà người dân Úc gọi là “The Black Saturday” hay “Ngày Thứ Bảy Đen”, khi nhiệt độ lên cao đến mức kỷ lục 46.4°C (115.52°F) lại thêm gió mạnh, cộng với một số hành động phá hoại, đã khiến bộc phát ra trận cháy rừng dữ dội, lan tràn khắp miền quê của tiểu bang này, trong hơn bốn tuần lễ.

Cơn bão lửa đi qua đã thiêu rụi gần nửa triệu héc-ta rừng, đốt cháy khoảng gần 2000 ngôi nhà, làm thiệt hại hàng ngàn ngôi nhà khác, đẩy khoảng 7500 cư dân vào cảnh vô gia cư. Một số thị trấn xinh đẹp và nên thơ của tiểu bang Victoria giờ đây chỉ còn trong ký ức. Cơn bão lửa quá dữ dội, vượt quá dự tính của nhiều người, đã cướp đi sinh mạng của khoảng 210 người. Sự thiệt hại về tài sản, của cải thật nhiều, nhưng cũng không sao sánh nỗi với niềm đau trước cảnh tang tóc chia lìa của nhiều gia đình. Nước Úc đã dừng lại mọi sinh hoạt, để cùng nhau tưởng đến nhớ các nạn nhân của trận bão lửa, trong buổi lễ tưởng niệm long trọng, được tổ chức vào ngày Chúa Nhật 22 tháng hai năm 2009 tại Melbourne, thủ phủ của tiểu bang Victoria.

Quý thính giả thân mến,

Đứng trước một biến cố quá bi thương và bất ngờ như vậy, chúng ta bàng hoàng đau đớn. Chúng ta hỏi nhau tại sao điều này lại có thể xảy ra? Trời cao có thấy thấu chăng đến nỗi niềm tang thương của người dưới thế? Thượng Đế, Ngài đang ở đâu?

Không phải chỉ có người dân Victoria trong cơn bão lửa vừa qua, nhưng rất nhiều người đã từng đặt câu hỏi này. Trong biến cố 11 tháng 9 năm 2001, trong trận sóng thần tsunami dọc theo các bờ biển Ấn Độ dương vào năm 2004, trong cơn bão Katrina năm 2005 và trong vô số những tai ương, chiến tranh, dịch lệ trải qua cả chiều dài lịch sử, bao nhiêu người đau khổ, ngước mắt tận trời xanh mà hỏi rằng:

“Thượng Đế, Ngài ở đâu? Tại sao Ngài không can thiệp để giảm bớt những tang thương trên thế giới này? Tại sao Ngài không trả lời chúng tôi?”

Có một vở kịch ngắn mang tên “The Long Silence” hay “Sự Yên Lặng Kéo Dài” mô tả như sau:

“Khi thế giới này đã vào chung cuộc, hàng tỷ tỷ người đứng chầu trên một khoảng không rộng lớn trước ngai của Thiên Chúa.

Hầu như mọi người đều chùn lại vì ánh sáng quá rực rỡ trước ngai, nhưng có một nhóm người đứng gần phía trước, chẳng tỏ ra rụt rè hay sợ sệt, nhưng ngược lại, họ đang phát biểu lớn tiếng, giọng nói đầy phẫn nộ:

“Chúa có thể xét xử chúng tôi được chăng? Làm sao Ngài thấu hiểu được nỗi khổ của chúng tôi?” một phụ nữ da ngăm đen, vừa nói, vừa xắn tay áo lên, để lộ một dấu xăm mang số tù nhân trong một trại tập trung của Đức Quốc Xã: “Chúng tôi hứng chịu bao nhiêu kinh hoàng, rồi bị đánh đập, bị tra tấn cho đến chết”

Một nhóm thanh niên khác kéo cổ áo xuống và hỏi “Hãy xem đây?” khi vạch ra những lằn thẹo nổi cộm vòng quanh cổ vì bị quất bằng dây thừng: “Chúng tôi bị bạc đãi hành hạ còn thua súc vật… trong khi chúng tôi chẳng có tội tình gì, nhưng chỉ vì chúng tôi mang kiếp người da đen!”

Trong một nơi khác, một nữ sinh thơ ngây, nhưng bụng lại đang mang thai. Với cặp mắt âu sầu ngấn lệ, em khóc tức tưởi: “Tại sao tôi phải chịu cảnh trái ngang này? Tôi chỉ là một đứa con gái tay yếu, chân mềm, làm sao chống cự lại được lũ côn đồ chứ?”

Trong khoảng không rộng lớn đó, có hàng ngàn nhóm người như vậy, thắc mắc vì sao họ phải chịu đựng bao khổ nạn trong khi còn sống trong thế gian. Họ cho rằng Thiên Chúa thật là may mắn vì Ngài chỉ ngự nên thiên đàng, nơi thật ngọt ngào và tươi sáng, chẳng hề có khóc than hay sợ hãi, chẳng có đói khát hay hận thù. Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngôi cao sang, làm sao có thể hiểu thấu những gì con người phải gánh chịu trong trần gian khổ ải này?

Do vậy, mỗi nhóm bèn cử một người phải chịu đựng nhiều đau khổ nhất, làm đại diện cho nhóm mình. Người ta thấy có một người Do-thái đại diện cho một sắc dân chịu nhiều phân ly đọa đầy nhất, một phụ nữ da đen, một nạn nhân trong trận ném bom nguyên tử tại Hiroshima, một người tật nguyền dị dạng, một đứa bé bị thần kinh. Họ bàn bạc với nhau để trình lên Chúa lời đề nghị chung.

Đó là, trước khi Thiên Chúa có thể trở thành thẩm phán xét xử họ, Ngài phải gánh chịu những gì họ phải gánh chịu. Họ quyết định đưa ra lời tuyên án là Thiên Chúa phải sống dưới thế gian này – như một con người!

“Ngài phải sinh ra làm người Do-thái. Hãy khiến việc mang thai hạ sinh ra Ngài cũng không hợp lệ, làm đề tài đàm tếu của thiên hạ. Hãy giao cho Ngài một công việc khó khăn đến nỗi người thân trong gia đình Ngài cũng nghĩ rằng Ngài đã quẩn trí khi cố gắng thực hiện công việc đó. Hãy để cho Ngài bị bạn bè phản bội và trở mặt. Hãy để cho Ngài bị vu oan, bị cáo buộc bởi một ban hội thẩm đầy ác ý và rồi hãy để Ngài bị kêu án bởi một quan tòa hèn nhát. Hãy để cho Ngài bị tra tấn dã man.

Hãy để cho Ngài biết thế nào là nỗi cô đơn tột cùng của một con người bị ghét bỏ và bị ruồng rẫy. Cuối cùng, hãy để cho Ngài chết thảm. Hãy để cho Ngài chết một cái chết mà không ai nghi ngờ là Ngài đã thực sự chết. Hãy để cho thật nhiều người chứng kiến cái chết đau thương của Ngài”.

Khi người đại diện xướng lên từng phần của bản án, những tiếng ỳ ầm đồng tình vang dội nổi lên từng hồi từ đám đông.

Nhưng khi phần cuối của bản án đã đọc xong, một sự yên lặng kéo dài thật lâu, tưởng chừng như đến bất tận, bao trùm cả hàng tỷ tỷ người đang hiện diện trước ngai Thiên Chúa.

Chẳng ai có thể thốt ra hay nói thêm một lời nào được cả. Vì bỗng nhiên, mọi người chợt nhớ lại rằng, trong dòng lịch sử nhân loại, Thiên Chúa đã từng tự nguyện giáng trần, trở nên một con người bằng xương, bằng thịt, lãnh trọn bản án đọa đầy mà họ vừa tuyên đọc”.

Quý thính giả thân mến,

Thiên Chúa Ngôi Hai, cách đây hơn 2000 năm, đã tự nguyện giáng trần, thành một con người mang tên Giê-xu.

Đấng Tạo Hóa đã trở thành loài thọ tạo, tìm kiếm và cứu vớt loài người lạc mất trong tội lỗi, đắm chìm trong muôn ngàn khổ đau chồng chất. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến với trái tim đầy nhân ái, như chính Ngài đã bày tỏ: “Ta đến trần gian không phải để kết tội, nhưng để cứu vớt” (Giăng 12:47)

Để mang đến tia hy vọng cho con người trong một thế giới ngập tràn khổ đau, để cứu vớt con người ra khỏi sự đoán phạt đời đời trong âm phủ, Chúa Giê-xu đã trở nên một con người quen chịu cô đơn, sầu khổ, bị đòn roi hất hủi và phải hứng chịu cái chết cực nhục trên thập tự giá, hy sinh mạng vàng, chết thế cho tội lỗi của muôn người…

Có một tình yêu tuyệt diệu, thâm trầm,
Yêu đến nổi hạ mình đến cùng tận,
Chịu tủi nhục, chịu trăm phần lận đận,
Chịu vu oan, chịu khinh rẻ phủ phàng.

Người ra đi từ ngôi báu Thiên Đàng,
Người là Vương Tử trên ngôi Thiên quốc
Vì yêu chúng ta Người hạ mình tận đất,
Từng trải biết bao sĩ nhục, cơ hàn.

Chịu cuộc đời thống khổ gian nan,
Đem thân báu để làm con sinh tế,
Để xóa hết tội tình cho nhân thế,
Ngài đã cam chịu chết ở thập hình.
(Tình Yêu – Thơ Thái Trịnh)

Nỗi Thống Khổ Của Con Trời

Kính thưa quý thính giả,

Luật Thiên Chúa đã quy định: “Phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức yêu kính Chúa Hằng Hữu, Thượng Đế mình” (Phục Truyền 6:5), nhưng tất cả chúng ta đã yêu những điều khác. Đây là tội lỗi, vì chúng ta hạ Đấng Tạo Hóa xuống thấp hơn những điều khác mà lòng mình ưa thích. Đây là tội lỗi, vì chúng ta xem Ngài nhẹ hơn những gì mắt chúng ta thích ngắm nhìn theo.

Lời Kinh Thánh khẳng định về tình trạng của mỗi người chúng ta rằng: “Mọi người đều phạm tội, không còn phản chiếu vinh quang Thượng Đế” (Rô-ma 3:23). Mà thật vậy, chúng ta tôn trọng nhưng gì chúng ta thích nhất, nhưng đã bỏ qua việc tôn kính Đấng tạo dựng và nuôi nấng mình mỗi ngày.

Tội lỗi là một sự việc vô cùng nghiêm trọng, vì chúng ta phạm tội, không phải với con người hay một tạo vật khác, nhưng với Đấng Chủ Tể của toàn vũ trụ, Đấng đáng được tôn kính và thờ lạy.

Tội lỗi chia cách loài người với Thiên Chúa, mang đến bao hệ quả khổ đau trong thế giới này. Tội lỗi đẩy chúng ta từ tạo vật yêu quý nhất, được mang ảnh tượng của Đấng Tạo Hóa, nay trở thành tội nhân, phải chịu phán xét, trước khi bị phân ly đời đời với Đấng Tối Cao như Kinh Thánh có ghi: “Thật vậy, lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là cái chết” (Rô-ma 6:23).

Cơn thạnh nộ của Thiên Chúa và lời nguyền rủa bao phủ trên tội lỗi. Luật công bình cần phải thực thi, như luật thánh có khẳng định: “Đáng nguyền rủa thay kẻ không giữ trọn những lời của Luật này” (Phục Truyền 27:26).

Nhưng bên cạnh bản tánh công bình, Thiên Chúa còn là Đấng Yêu Thương. Tình yêu khiến Ngài không dừng lại ở lời nguyền rủa. Vì yêu, Thiên Chúa không thỏa lòng với cơn giận dữ không nguôi trên loài người mãi mê đắm chìm trong ô tội.

Do vậy, Ngài đã sai Con Một là Chúa Cứu Thế Giê-xu giáng trần, trở nên một con người, lãnh trọn cơn thạnh nộ và chịu đựng bao sự nguyền rủa cho những ai bằng lòng tin nơi Con ấy, như sứ đồ Phao-lô có ghi: “Chúa Cứu Thế đã giải thoát chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp. Ngài đổi địa vị thay cho chúng ta và tự đặt mình dưới sự nguyền rủa ấy. Như Thánh Kinh viết, “Người nào bị treo lên trên cây gỗ thật đáng nguyền rủa.” (Ga-la-ti 3:13).

Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài, giáng thế làm người, để đứng thế vào chỗ mà lẽ ra chúng ta phải đứng, để lãnh trọn cơn thạnh nộ và sự nguyền rủa thế cho mỗi chúng ta.

Kính mời quý vị theo dõi lời ký thuật trong Kinh Thánh về cái chết đau thương của Con Trời, vì yêu đã lãnh thế bản nợ tội cho chúng ta, như sau:

Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đi đến một nơi gọi là Ghết-sê-ma-nê. Ngài bảo họ, “Ngồi đây đợi ta cầu nguyện.” Rồi Ngài mang Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi với mình, lúc ấy lòng Ngài bắt đầu buồn rầu và bối rối lắm. Ngài bảo họ, “Lòng ta buồn bã đến chết được. Các con hãy ở đây và tỉnh thức.”

Sau khi đi cách họ một khoảng, Ngài quì xuống cầu nguyện để, nếu có thể được, Ngài sẽ không phải trải qua giờ đau khổ nầy. Ngài cầu nguyện như sau, “A-ba thưa Cha! Cha có thể làm mọi điều. Xin lấy ly đau khổ nầy khỏi con. Nhưng xin hãy làm theo ý muốn Cha chứ không phải theo ý muốn con.”

Rồi Ngài trở lại với các môn đệ thì thấy họ đang ngủ. Ngài bảo Phi-e-rơ, “Si-môn à, con ngủ sao? Con không thức nổi với ta trong một tiếng đồng hồ sao? Hãy thức canh và cầu nguyện để khỏi rơi vào sự cám dỗ. Tinh thần thì muốn làm điều phải, nhưng thân thể thì mỏi mệt.”

Một lần nữa, Chúa Giê-xu lại đi cầu nguyện giống như trước. Khi trở về thì Ngài vẫn thấy họ ngủ vì mắt họ đừ quá rồi. Họ cũng chẳng biết nói làm sao với Ngài. Sau khi Chúa Giê-xu đi cầu nguyện lần thứ ba, Ngài trở lại với các môn đệ và bảo họ, “Các con vẫn còn ngủ nghỉ à? Thôi đủ rồi. Đến giờ Con Người sắp bị trao vào tay kẻ ác. Đứng dậy. Chúng ta phải đi. Kẻ phản ta đang đến kia kìa.”

Ngay lúc Chúa Giê-xu còn đang nói thì Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ ập đến. Cùng đi với hắn có nhiều người mang gươm giáo, gậy gộc. Họ được các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão Do-thái phái đến.

Tên phản bội ra dấu trước cho chúng rằng, “Ai mà tôi hôn là người ấy. Hãy bắt lấy và giải đi thật cẩn thận.” Giu-đa tiến thẳng đến Chúa Giê-xu và nói, “Thưa thầy!” rồi hôn Ngài. Chúng liền ra tay bắt Chúa Giê-xu. Một trong các môn đệ đang đứng đó rút gươm ra chém đứt vành tai tên đầy tớ của thầy tế lễ tối cao.

Chúa Giê-xu bảo họ, “Các anh dùng gươm giáo và gậy gộc đến bắt ta như thể ta là tên phạm pháp. Mỗi ngày ta giảng dạy trong đền thờ công khai mà các anh không dám bắt. Nhưng những việc nầy xảy ra để lời Thánh Kinh được thành tựu.”

Ngay lúc ấy tất cả các môn đệ đều bỏ Ngài chạy trốn hết. Có một cậu thanh niên đi theo Chúa Giê-xu, trên người chỉ có tấm khăn vải quấn ngang. Chúng túm bắt anh ta. Nhưng anh bỏ tấm khăn quấn người lại, trần truồng bỏ chạy.

Cứ mỗi năm vào dịp lễ Vượt qua, quan thống đốc thường hay ân xá cho một tên tù phạm theo ý dân xin. Lúc ấy có tên Ba-ra-ba đang ngồi tù với mấy tên phản loạn. Chúng đã phạm tội giết người trong một vụ bạo động. Dân chúng đến xin Phi-lát ân xá cho một tù nhân theo thông lệ.

Nên Phi-lát hỏi họ, “Các ông có muốn tôi ân xá vua dân Do-thái không?” Phi-lát biết rõ là do lòng ganh ghét mà các giới trưởng tế giải Chúa Giê-xu đến cho mình. Nhưng các giới trưởng tế xúi giục dân chúng xin tha Ba-ra-ba chứ đừng tha Chúa Giê-xu.

Phi-lát lại hỏi dân chúng một lần nữa, “Còn người mà các anh gọi là vua dân Do-thái thì tôi phải xử làm sao đây?”

Dân chúng quát lớn, “Đóng đinh hắn đi!”

Phi-lát hỏi, “Tại sao? Ông ta đã làm điều gì phạm pháp đâu?”

Nhưng họ lại hét lớn hơn nữa, “Đóng đinh hắn đi!”

Phi-lát muốn làm vừa lòng dân chúng nên tha Ba-ra-ba cho họ. Sau khi cho đánh đòn Chúa Giê-xu, ông giao Ngài cho các tên lính mang đi đóng đinh.

Bọn lính mang Chúa Giê-xu vào trong dinh thống đốc gọi là tổng dinh, và tập họp tất cả các quân sĩ lại. Chúng lấy áo dài tím mặc cho Chúa Giê-xu và dùng nhành chông gai làm mão đội lên đầu Ngài. Rồi chúng bắt đầu kêu, “Muôn tâu, vua dân Do-thái!” Bọn lính lấy gậy đập đầu Ngài nhiều lần. Chúng nhổ vào mặt Ngài và chế giễu Ngài bằng cách quì gối xuống giả vờ bái lạy Ngài. Sau khi chế giễu xong bọn lính cởi áo tím của Ngài ra và mặc lại áo quần cho Ngài. Rồi chúng dẫn Ngài ra khỏi dinh để mang đi đóng đinh.

Có một người tên Si-môn gốc xứ Xi-ren, cha của A-lịch-sơn và Ru-phu, từ ngoài đồng trở về thành. Bọn lính bắt ông ta phải vác cây thập tự thế cho Chúa Giê-xu. Chúng đưa Ngài đến một nơi gọi là Gô-gô-tha nghĩa là Đồi Sọ. Bọn lính định cho Chúa Giê-xu uống rượu trộn với một dược, nhưng Ngài không chịu uống. Các tên lính đóng đinh Chúa Giê-xu và chia áo quần của Ngài bằng cách bắt thăm xem ai được phần nào.

Lúc chúng đóng đinh Chúa Giê-xu là chín giờ sáng. Có một bảng treo lên ghi án Ngài như sau: VUA DÂN DO-THÁI. Chúng cũng treo hai tên cướp lên hai cây thập tự kế bên Ngài, một tên bên phải, một tên bên trái. Người qua kẻ lại sỉ nhục Ngài và lắc đầu, “Ê, anh nói anh sẽ phá đền thờ rồi xây lại trong ba ngày, Bây giờ hãy tự cứu mình đi! Hãy xuống khỏi cây thập tự đi!”

Các giới trưởng tế và các giáo sư luật cũng chế giễu Ngài. Họ bảo nhau, “Hắn cứu người khác được mà cứu mình không được. Nếu hắn thật là Đấng Cứu Thế, vua dân Ít-ra-en thì có giỏi nhảy xuống khỏi cây thập tự đi. Làm được vậy chúng ta mới tin.” Hai tên cướp bị đóng đinh hai bên Ngài cũng sỉ nhục Ngài.

Từ giữa trưa, khắp xứ đều tối mịt hơn ba tiếng đồng hồ. Đến ba giờ chiều Chúa Giê-xu kêu lớn, “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bách-tha-ni.” Nghĩa là, “Thượng Đế của tôi ơi, Thượng Đế của tôi ơi, sao Ngài bỏ tôi?”

Chúa Giê-xu kêu lên một tiếng lớn nữa rồi qua đời. Cái màn trong đền thờ bị xé toạc làm đôi từ trên xuống dưới.

Next