Previous
Phát Thanh Hy Vọng

Kính thưa quý thính giả,

Ngành y khoa luôn luôn tìm tòi những phương thức để chúng ta sống khỏe hơn, được đẹp hơn và nhất là sống được lâu hơn. Với nhiều khám phá mới đây trong di truyền học, người ta đã xác định được những phần tử trong gen gây ra bệnh tật hay ung thư. Khi những phần nguy hiểm trong gen được xác định, để rồi được cải thiện hay loại bỏ, con người sẽ có hy vọng sống lâu hơn hết so với tất cả các thời đại khác trong lịch sử nhân loại.

Có thể nói, con người đang nỗ lực không ngừng để trì hoãn cái chết không thể tránh được, mà Kinh Thánh đã tuyên bố: “Vì đã định cho mọi người phải chết một lần rồi chịu xét xử” (Hê-bơ-rơ 9:27)

Vào đầu thiên niên kỷ này, có nảy sinh ra một ngành khoa học mới về phương thức ướp xác bằng cách giữ thật lạnh (cryonics), đã đem lại hy vọng là một người dầu chết rồi, cũng có thể tái sinh lại được. Người ta xây một nhà ướp xác hiện đại, cách thành phố Los Angeles khoảng 50 cây số. Tại đây, những xác chết đầu tiên được giữ lạnh từ năm 1993 bằng khí nitrogen lỏng, ở khoảng nhiệt độ âm 193°C. Những thi hài được giữ lạnh và bao kín, đặt vào trong hầm ở dưới đất và chờ một ngày trong tương lai sẽ được lấy ra, khi ngành y khoa tương lai khám phá được cách thức phục hồi một xác chết. Tiền tổn phí ướp xác thật là nhiều, không biết bao nhiêu mà kể, bởi vì khi nào thì con người mới khám phá ra cách phục hồi một xác chết? Đó là chưa kể, nếu có phục hồi được, thì rồi người đó cũng sẽ chết nữa mà thôi!

Thế mới biết, chẳng ai muốn chết cả. Đời đang vui thì muốn sống hoài. Đời đang khổ sở, đớn đau trong bệnh tật, dẫu đôi khi buột miệng than rằng muốn chết, nhưng thực ra chỉ muốn thoát khỏi cơn đau mà thôi, chứ trong lòng thì vẫn còn mong sống lắm. Khi người ta thực thi “nan y tử quyền”, chích cho một bệnh nhân bị dày vò trong đau đớn, một mũi thuốc độc “ân huệ”, thì người ta đang dập tắt mọi niềm hy vọng của bệnh nhân ấy, chứ chẳng hề đáp ứng sự mong ước của người đó như nhiều người lầm tưởng.

Vì lòng mong ước thật sự của mọi con người là được sống đời đời, được sống vĩnh viễn trong hạnh phúc. Chính Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta như vậy, như Kinh Thánh có bày tỏ: “Thượng Đế có gieo rắc ý niệm vĩnh cửu vào trí óc loài người” (Truyền Đạo 3:11). Thật vậy, con người chúng ta được dựng nên theo như ảnh tượng tốt đẹp của Thiên Chúa, để sống đời đời, để tận hưởng tình yêu của Đấng Tạo Hóa trong vĩnh cửu.

Tiếc thay, vì mọi người đều đã phạm tội với Đấng Chủ Tể của vũ trụ, đặt Ngài thấp hơn những dục vọng riêng tư của chính mình, đã khiến chúng ta phải chết để rồi bị phán xét trước Đấng Tối Cao như một tội nhân vô vọng.

Để cứu con người ra khỏi bản án phạt đời đời, Thiên Chúa Ngôi Hai, cách đây hơn 2000 năm, đã tự nguyện giáng trần trong một con người mang tên Giê-xu.

Chúa Cứu Thế Giê-xu đã tự nguyện đứng thế vào chỗ của chúng ta, chết cực nhục trên cây thập tự, để lãnh trọn cơn thạnh nộ và bản án phạt của Thiên Chúa.

Nợ tội đã trả hết. Lẽ công bằng đã được đáp ứng. Thiên Chúa bày tỏ sự hài lòng và công bố sự chấp thuận của lễ chuộc tội trọn vẹn trên cây thập tự, qua sự kiện phục sinh, tức là khiến Chúa Giê-xu sống lại từ cõi chết.

Sau khi Chúa Giê-xu bị xử chết trên thập tự, được đặt trong mộ đá, sau ba ngày, Ngài đã phục sinh, Ngài đã thực sự sống lại từ cõi chết.

Kính mời quý vị theo dõi một lời tường thuật về sự kiện phục sinh diệu kỳ này, được ghi trong Kinh Thánh như sau:

Buổi sáng ngày đầu tuần lễ, khi trời hãy còn tối, Ma-ri Ma-đơ-len đến thăm mộ thì thấy tảng đá chận cửa mộ đã được lăn đi chỗ khác. Cô vội vàng chạy về báo tin cho Phi-e-rơ và môn đệ Ngài yêu. Ma-ri bảo, “Người ta dời Chúa đi mất, không biết họ để Ngài ở đâu!”

Nghe thế Phi-e-rơ và môn đệ kia vội vàng chạy đến mộ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn nên đến mộ trước. Ông cúi xuống nhìn vào trong, thấy vải liệm nằm đó nhưng không bước vào. Si-môn Phi-e-rơ đến sau, vào thẳng trong mộ, thấy vải liệm nằm đó và khăn liệm quấn quanh đầu Chúa Giê-xu được xếp lại để riêng ra, không cùng chỗ với vải liệm. Rồi môn đệ kia, người đã đến mộ trước, cũng bước vào thì thấy và tin. Lúc ấy hai người vẫn chưa hiểu lời Thánh Kinh nói rằng Ngài phải sống lại từ cõi chết.

Rồi hai người trở về nhà. Còn Ma-ri thì đứng ngoài mộ sụt sùi khóc. Cô vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ thì thấy hai thiên sứ mặc áo trắng ngồi chỗ đã đặt xác Chúa Giê-xu, một người ở phía đầu, một người phía chân.

Họ hỏi Ma-ri, “Cô ơi, sao cô khóc?”

Cô trả lời, “Người ta mang Chúa tôi đi mất, không biết họ để Ngài ở đâu!” Nói xong, cô quay lại, thấy Chúa Giê-xu đang đứng đó nhưng không nhận ra Ngài.

Chúa Giê-xu hỏi, “Cô ơi, sao cô khóc? Cô tìm ai vậy?”

Tưởng là người làm vườn nên cô hỏi, “Thưa bác, có phải bác dời Ngài đi rồi không? Bác để Ngài đâu thì cho tôi biết để tôi đến lấy.”

Chúa Giê-xu gọi, “Ma-ri!”

Ma-ri quay người lại về hướng Ngài và kêu lên bằng tiếng Do-thái, “Ra-bô-ni!” nghĩa là ‘Thầy.’

Chúa Giê-xu bảo, “Đừng ôm lấy ta vì ta chưa lên cùng Cha. Nhưng hãy đi nói với các anh em ta rằng ‘Ta trở về cùng Cha ta cũng là Cha các con, cùng Thượng Đế của ta cũng là Thượng Đế của các con.’”

Ma-ri Ma-đơ-len về thuật cho các môn đệ rằng, “Tôi đã thấy Chúa!” đồng thời bảo họ những điều Ngài đã dặn.

Trong khi các bà ấy đi thuật chuyện lại với các môn đệ, thì toán lính gác mộ chạy vào thành, báo cáo cho các giới trưởng tế về sự việc vừa xảy ra. Các giới trưởng tế họp với nhóm bô lão và bàn kế hoạch. Họ hối lộ cho bọn lính một số tiền lớn rồi căn dặn, “Hãy bảo dân chúng là ban đêm trong khi mấy anh đang ngủ, thì bọn môn đệ Giê-xu đến đánh cắp xác hắn đi. Nếu quan thống đốc nghe vụ nầy, chúng tôi sẽ giải thích cho ông ta rõ để mấy anh khỏi gặp rắc rối.” Cho nên bọn lính lấy tiền rồi làm theo y như điều căn dặn. Tiếng đồn ấy vẫn còn đến ngày nay trong vòng dân chúng.

Lúc ấy là chiều ngày đầu tiên trong tuần, các môn đệ đang nhóm họp lại, tất cả cửa nẻo đều khóa chặt vì sợ người Do-thái. Bỗng nhiên Chúa Giê-xu hiện ra đứng giữa họ và nói, “Bình an cho các con.” Nói xong Ngài đưa tay và hông ra. Môn đệ vô cùng mừng rỡ khi thấy Chúa.

Ngài lại bảo, “Bình an cho các con! Cha đã sai ta ra sao thì ta cũng sai các con như thế.” Nói xong Ngài hà hơi trên họ và nói, “Hãy nhận lãnh Thánh Linh. Nếu các con tha tội cho ai thì tội người ấy sẽ được tha; còn nếu các con không tha thì tội người ấy sẽ không được tha.”

Thô-ma, còn gọi là Đi-đim, một trong mười hai môn đệ, không có mặt ở đó khi Chúa Giê-xu hiện ra. Các môn đệ kia quả quyết với Thô-ma rằng, “Chúng tôi đã thấy Chúa!” Nhưng Thô-ma bảo, “Nếu tôi không thấy dấu sẹo đinh nơi tay Ngài, nếu ngón tay tôi không rờ được dấu đinh và bàn tay tôi không đụng vào hông Ngài thì tôi không tin.”

Một tuần sau, các môn đệ đang nhóm nhau trong phòng, lần nầy có mặt Thô-ma. Cửa đang khóa chặt thì Chúa Giê-xu bỗng hiện đến đứng giữa họ và nói rằng, “Bình an cho các con.” Rồi Ngài bảo Thô-ma, “Hãy đặt ngón tay con vào đây và hãy nhìn kỹ bàn tay ta. Hãy đến đặt bàn tay con vào hông ta. Đừng ngờ vực nữa mà hãy tin!”

Thô-ma kêu lên, “Lạy Chúa và Thượng Đế của con!”

Chúa Giê-xu bảo Thô-ma, “Bây giờ con tin vì mắt con đã thấy ta. Ai không thấy mà tin là người có phúc thật!”

Nguồn Sống Mới

Kính thưa quý thính giả,

Nếu chúng ta xem Cơ-đốc giáo là một tôn giáo, thì đây là trường hợp duy nhất một tôn giáo tuyên bố rằng giáo chủ của mình sống lại từ trong mộ phần.

Đúng như vậy, những người tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu tuyên bố rằng sự sống lại từ cõi chết của Ngài là nền tảng của niềm tin, là toàn bộ hy vọng của sự cứu rỗi.

Một người đã chết nhưng sống lại được chăng?

Lời tuyên bố này đã gây biết bao nhiêu nghi ngờ thắc mắc, khiến biết bao nhiêu người đã dành thời giờ để nghiên cứu, xem xét những lời ký thuật trong Kinh Thánh, đối chiếu với những sự kiện lịch sử, để khẳng định sự phục sinh của Chúa Giê-xu có thật sự xảy ra hay không.

Thật lạ là càng tìm hiểu, điều tra và xem xét, người ta phải công nhận, sự kiện phục sinh của Cứu Chúa Giê-xu là siêu nhiên nhưng cũng hiển nhiên nữa.

Thứ nhất là việc ngôi mộ trống.

Sau khi Chúa Giê-xu bị xử tử trên cây thập tự, quan tổng trấn Phi-lát đã ra lệnh cho viên đại đội trưởng của toán hành quyết La-mã phối kiểm để biết chắc là Giê-xu đã thực sự chết. Giô-sép, người A-ri-ma-thê, một nhân viên có uy tín trong Hội đồng Quốc gia Do-thái, nhưng lại kính mến Chúa Giê-xu đã bạo dạn đến xin Phi-lát cho lãnh xác Chúa Giê-xu để chôn.

Giô-sép mua một cây vải gai, gỡ xác Ngài xuống khâm liệm, chôn trong huyệt đá đục bên sườn núi, rồi lăn một tảng đá lớn chặn trước cửa mộ. Ba ngày sau đó, vào sáng tinh sương ngày Chúa Nhật, khi các bà đi thăm mộ, đã khám phá ra ngôi mộ đã trống, tức thi thể của Chúa Giê-xu không còn trong đó, nhưng chỉ còn tấm vải liệm.

Cứ cho là các bà lầm lẫn, đi trật mộ, thì sau khi các bà thông báo và loan tin Chúa Giê-xu sống lại, chắc hẳn các nhà lãnh đạo tôn giáo Do-thái, là những người đã âm mưu giết Chúa Giê-xu, hẳn sẽ cho kiểm tra lại mộ.

Còn các nhà lãnh đạo Do-thái có ăn cắp xác Ngài không? Cứ cho là họ đã làm như vậy, nhưng khi tin đồn phục sinh lan ra, thì chắc họ sẽ chưng xác Chúa ra ngay, để dập tắt ngay nguồn tin vô cùng bất lợi cho họ.

Còn những người lính canh mộ có ăn cắp xác Chúa không? Nếu có, họ chẳng khác nào tự kiếm con đường chết, vì trách nhiệm của họ là canh mộ Ngài. Hơn nữa, khi họ hoảng hốt báo tin ngôi mộ trống cho các trưởng tế Do-thái, cả thầy lẫn trò đều đã kiểm chứng rằng xác Chúa Giê-xu không còn trong mộ nữa, nên họ phải bịa ra chuyện rằng đám lính canh đã ngủ gục và các môn đệ của Chúa Giê-xu đã ăn cắp xác Ngài.

Còn các môn đệ có ăn cắp xác Chúa được không? Khi Chúa Giê-xu bị tra tấn dã man và bị treo thảm thương trên cây thập tự, các nam môn đệ đã quá sợ hãi và chạy trốn khắp nơi. Họ làm sao có đủ can đảm để làm chuyện hi hữu đó, khi ngôi mộ đã được niêm phong, cửa mộ bị chận lại bằng tảng đá nặng cả tấn và được lính canh gác cẩn mật?

Lại nữa, lời tường thuật của bốn nam môn đệ Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng về sự kiện phục sinh đều khẳng định rằng các bà là những người đầu tiên vinh dự khám phá sự kiện ngôi mộ trống. Đây quả là điều đáng hổ thẹn cho mấy ông, nhất là trong một bối cảnh “trọng nam khinh nữ” của xã hội Do-thái thời bấy giờ. Nếu câu chuyện phục sinh của Chúa Giê-xu chỉ là một huyền thoại, thì bốn nam môn đệ phải thêu dệt theo một cách thức thuận lợi, tôn cao danh dự của các ông chứ? Nhưng không, họ đã trung thực ghi lại những điều mắt thấy tai nghe.

Thứ nhì là có nhiều người làm chứng về việc Chúa Giê-xu sau khi phục sinh, đã xuất hiện với họ. Sau khi sống lại từ cõi chết, con người Giê-xu đã gặp gỡ rất nhiều người, với cá nhân hay trong một nhóm, trước một đám đông, đôi khi trong nhà, lúc khác ở ngoài đường, với những người nhu mì và cả những người đa nghi. Nếu mời tất cả những nhân chứng được ghi trong Kinh Thánh để phối kiểm, cho mỗi người 15 phút để tường thật, chúng ta có tất cả là 129 giờ, hay khoảng 5 ngày liên tục, lời nhân chứng về những điều mắt thấy tai nghe. Đây là số lượng làm chứng khổng lồ, vượt hẳn yêu cầu của một phiên tòa nào ngày nay, chứng tỏ Chúa Giê-xu phục sinh là một sự thật hiển nhiên.

Chúa Giê-xu không phải ẩn hiện một vài giây tích tắc, loáng thoáng chỉ với một hay hai người, nhưng Ngài thăm viếng thật nhiều người và trong vài trường hợp, cũng đã ở thật lâu để trò chuyện và dùng bữa chung.

Điều này là một sự thật hiển nhiên, đồn ra trong dân chúng thời bấy giờ, như sứ đồ Phao-lô đã nghe thấy, ghi nhận và trình bày: “Tôi truyền lại cho anh chị em điều chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Chúa Cứu Thế đã chết vì tội lỗi chúng ta như lời Kinh Thánh. Ngài được chôn và đến ngày thứ ba Ngài sống lại đúng như lời Kinh Thánh. Ngài đã hiện ra cho Phê-rơ, rồi cũng hiện ra cho nhóm mười hai sứ đồ. Sau đó Ngài hiện ra cùng một lúc cho hơn năm trăm anh chị em mà phần lớn vẫn còn sống cho đến ngày nay, nhưng vài người đã chết. Ngài cũng hiện ra cho Gia-cơ và tất cả các sứ đồ. Sau cùng, Ngài cũng hiện ra với tôi, như một hài nhi sanh non” (Công Vụ 15: 3-8).

Có thể nào 500 người có cùng một ảo giác? Nếu không đúng sự thật, những gì sứ đồ Phao-lô ghi xuống chắc sẽ bị người đồng thời, là người còn sống từ thời Chúa Giê-xu sẽ phản kháng và phủ quyết ngay.

Quý thính giả thân mến,

Nhà triết học James Porter Moreland đã kết luận về sự kiện Chúa Giê-xu phục sinh như sau:

“Khi Chúa Giê-xu bị treo trên cây thập tự, những môn đệ của Ngài đã sợ hãi và bỏ trốn. Phong trào theo Giê-xu đã bị dừng lại và sụp đổ hoàn toàn. Sau một thời gian ngắn, cũng các môn đệ đó lại bỏ công ăn việc làm, dứt bỏ mọi ràng buộc thế nhân, để dấn thân rao giảng về một sứ điệp rất đặc biệt: đó là, Giê-xu, chính là Chúa Cứu Thế của nhân loại, đã chết trên cây thập tự, sống trở lại và xuất hiện trước nhiều người. Họ rao truyền điều này thật sống sắng trong cả cuộc đời còn lại của họ. Họ được lợi lộc gì? Họ bị đói khát, bị khinh bỉ, bị đánh đập, bị bỏ tù, thậm chí bị xử tử thật thê lương? Họ làm điều này vì một thiện chí nào chăng?

Không, họ làm như vậy được vì họ đã chứng kiến thấy tận mắt, chẳng chút nghi ngờ, rằng Cứu Chúa Giê-xu đã sống lại từ cõi chết.

Khác hẳn với những tôn giáo khác, với một mớ kinh kệ dông dài và lý thuyết mông lung, chỉ duy các môn đệ của Chúa Giê-xu được chứng kiến Chúa của họ đã sống lại từ cõi chết.

Ngài đã ở cùng với họ, đụng chạm họ, dùng bữa với họ. Đang sợ sệt lại trở nên vô cùng can đảm. Chẳng ai liều chết cho chuyện không biết rõ là thật hay giả. Nhưng các môn đệ của Chúa Giê-xu sẵn sàng đã rao truyền sự sống lại của Ngài, cho dầu phải trả giá bằng chính mạng sống mình, vì họ biết đây là sự thật”.

Kính thưa quý thính giả,

Chúa Cứu Thế Giê-xu, vì quá yêu chúng ta đến nỗi đã tự nguyện giáng trần, trở nên một con người, đứng thay vào chỗ của chúng ta, đón nhận sự thạnh nộ và nguyền rủa của Thượng Đế vì tội lỗi của loài người, chết cực nhục trên cây thập tự.

Sau ba ngày bị đặt trong mộ đá, Chúa Giê-xu đã phục sinh, sống lại từ cõi chết.

Sự kiện phục sinh chứng tỏ cái chết hy sinh đau thương của Con Trời là giá trả trọn vẹn cho mọi ô tội gớm ghê của con người. Đức Chúa Trời đã hài lòng trước của lễ chuộc tội hoàn hảo qua cái chết đau thương của Con Một của Ngài, cho nên đã khiến Chúa Giê-xu phục sinh từ cõi chết.

Do vậy, những ai tin nhận vào sự chết thế của Chúa Giê-xu, thì được Thiên Chúa tha thứ trọn vẹn cho mọi vi phạm và dầu chết rồi nhưng cũng sẽ được sống lại như Chúa Cứu Thế, để tận hưởng nguồn phước hạnh muôn đời, như lời Kinh Thánh đã khẳng định:

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)

Previous