Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Chúng ta chắc có lần đã nghe qua câu chuyện A-đam và Ê-va, thủy tổ của loài người, vì đã lỡ ăn trái cấm, nên bị Thượng Đế đuổi ra vườn địa đàng. Có người nghĩ rằng câu chuyện thật là vô lý, vì tại sao chỉ lỡ ăn một trái cấm thôi mà Thượng Đế lại đoán phạt A-đam và Ê-va thật nặng nề, thậm chí xua đuổi họ ra khỏi vườn địa đàng. Nếu một người lỡ ăn trộm một trái táo, thì chỉ là “chuyện nhỏ”, đâu đến nỗi phải xua đuổi hay đọa đày người đó cho đến trọn đời? Nếu vụ án này được đặt trước một phiên tòa ngày nay, liệu A-đam có quyền kháng án không?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy cùng nhau mở lại hồ sơ của vụ án đầu tiên trong lịch sử loài người, được chép trong Kinh Thánh như sau:

Thượng Đế Hằng Hữu lập một khu vườn tại Ê-đen, về phương đông, đưa người đến ở. Trong vườn, Thượng Đế trồng các loại cây đẹp đẽ, sinh quả ngon ngọt. Chính giữa vườn là Cây Sự Sống và Cây Lương Tâm (biết phân biệt thiện ác). Một con sông phát nguyên từ Ê-đen tưới khắp vườn, rồi chia ra bốn nhánh.

Thượng Đế Hằng Hữu đưa A-đam vào vườn Ê-đen để trồng trọt và chăm sóc vườn. Thượng Đế ra nghiêm lệnh: "Con được tự do ăn mọi thứ cây trái trong vườn, trừ Cây Lương Tâm, vì trái nó mở mắt con, cho con biết điều thiện điều ác. Một khi con ăn, chắc chắn sẽ chết!"

Trong các loài động vật Thượng Đế tạo nên, rắn xảo quyệt hơn cả. Rắn hỏi dò người nữ: "Có phải Thượng Đế cấm chị không được ăn mọi thứ cây trong vườn không?"

"Chúng tôi được ăn các thứ trái cây trong vườn chứ!" người nữ đáp, "Chỉ mỗi một cây trồng giữa vườn, Thượng Đế không cho đụng chạm đến; nếu trái lệnh chúng tôi sẽ chết."

Rắn quả quyết: "Chắc chắn không chết đâu! Thượng Đế biết rõ khi nào ăn, mắt anh chị sẽ mở ra, anh chị sẽ giống như Thượng Đế, biết phân biệt thiện ác."

Người nữ nhìn trái cây thèm thuồng, thấy vừa ngon, vừa đẹp, lại mở mang trí khôn, liền đưa tay hái ăn, rồi trao cho chồng đứng bên mình. Chồng cũng ăn nữa. Mắt hai người mở ra, biết mình trần truồng, liền kết lá vả che thân. (Sáng Thế Ký 2:8-16, 3:1-6)

Kính thưa quý thính giả,

Sự kiện A-đam và Ê-va ăn trái cấm có phải là “chuyện nhỏ”, giống như ăn trộm một trái táo trong vườn hay đậu xe trật chỗ hay không?

Thứ nhất, Thượng Đế không phải chỉ khuyên bảo, nhưng Ngài đã ra “nghiêm lệnh” với A-đam, do vậy người đã biết rất rõ đây là một điều hệ trọng trước mặt Đấng Tối Cao.

Thứ nhì, khi đưa ra nghiêm lệnh, Thượng Đế đã nói rõ, khi bất tuân thì hậu quả là “chắc chắn phải chết”, do vậy A-đam chắc chắn hiểu rõ tầm quan trọng của nghiêm lệnh này. Vì Thượng Đế đã công bố rõ ràng ngay từ đầu về nghiêm lệnh cùng hậu quả, nên A-đam không thể nói rằng luật lệ không rõ ràng, không công bình hay bản án nặng nề quá sức so với mức độ vi phạm.

Bên cạnh bản tính công bình với uy quyền tuyệt đối, Thượng Đế thật giàu lòng nhân từ, vì Ngài đã làm mọi sự để giúp cho việc vâng lời của A-đam và Ê-va thật dễ dàng và thoải mái. Ngài đã sáng tạo ra A-đam không mang bản chất tội lỗi, đưa người vào một môi trường tuyệt hảo, cung cấp cho người mọi nhu cầu cần thiết, ban cho A-đam ý chí và năng lực. Ngài cũng cho A-đam những công việc kỳ thú để tận dụng bàn tay và khối óc của mình, cũng như đem đến cho người nàng Ê-va xinh đẹp và hoàn hảo để làm người bạn đời, cũng như chính Ngài làm bầu bạn, gần gũi với cả hai.

Nói theo ngôn ngữ ngày nay, chúng ta có thể tạm diễn tả như sau: Thượng Đế ban cho A-đam một thân hình khỏe mạnh, một khuôn mặt điển trai, một khối óc thông minh tuyệt vời, có vài bằng tiến sĩ với bao tài khéo léo khác. A-đam được ở trong một nơi cực kỳ đẹp đẽ và sung sướng, với địa vị tổng giám đốc của một công ty khổng lồ. Còn đời sống riêng thì được tự do, thoải mái tận hưởng mọi tiện nghi tốt nhất trên đời và người bạn đời “đầu gối tay ấp” là một giai nhân tuyệt thế, có một không hai trong cả thiên hạ. A-đam được Thượng Đế tin cậy, trao cho mọi quyền quyết định, duy chỉ một điều là không được nếm đến cây “biết điều thiện và điều ác”, có vậy thôi.

Thực vậy, nghiêm lệnh mà Thượng Đế ban ra cho A-đam là một cuộc trắc nghiệm đơn giản và công bằng về sự vâng lời và tình yêu, là cách thức để hai con người đầu tiên có dịp thừa nhận Ngài là Đấng Tạo Hóa của họ.

Do vậy, khi A-đam và Ê-va bị tuyên án, không phải vì họ “thòm thèm” hương vị của một loại trái cây ngon, nhưng cốt lõi của sự vi phạm, đó là cả hai đã bất tuân Thượng Đế.

Buổi chiều, sau khi A-đam và Ê-va đã phạm tội, Thượng Đế đi vào vườn, thì tội lỗi đã tác động trong con người của A-đam và Ê-va. Cả hai cảm thấy xấu hổ, đầy mặc cảm và sợ hãi, đang lẫn trốn giữa các lùm cây để tránh mặt Ngài, là Đấng mà họ thật thân thiết và gần gũi trước đó.

Thượng Đế gọi: "A-đam, con ở đâu?"

A-đam thưa: "Nghe tiếng Chúa trong vườn, con sợ nên đi trốn, vì con trần truồng."

Thượng Đế hỏi: "Ai nói cho con biết con trần truồng? Con đã ăn trái cây Ta cấm phải không?"

A-đam thú nhận: "Người nữ Chúa cho sống với con đã đưa con trái cây ấy, và con ăn rồi."

Thượng Đế Hằng Hữu hỏi người nữ: "Sao con làm điều đó?"

"Rắn lừa gạt con, nên con ăn," người nữ đáp. (Sáng Thế Ký 3:9-13)

Kính thưa quý thính giả,

A-đam không phủ nhận hành động bất tuân của mình, nhưng bắt đầu “đổ thừa”. A-đam đổ thừa cho Ê-va là người đã hái trái cấm trước và rồi đưa cho mình ăn. A-đam còn tiếp thêm một bước nữa là đổ thừa cho Thượng Đế rằng chính Ngài đã dựng nên Ê-va và đem nàng đến cho người, khiến mới ra nông nỗi này. Ê-va cũng bắt chước “chiến thuật” của chồng, đã đổ thừa cho con rắn đã dụ dỗ nàng. Sự đổ lỗi này có giá trị hay không?

Thượng Đế không cho phép Sa-tan cải trang làm một thiên sứ sáng chói và uy nghi khi dụ dỗ Ê-va, để cho nàng không thể bị nhầm lẫn đây là một đấng thần linh cao trọng đang đem đến một chỉ thị mới, nhưng Sa-tan đội lốt một con rắn, là một loài thọ tạo thấp kém, khi so với địa vị làm người của A-đam và Ê-va. Hơn thế nữa, Thượng Đế cũng đã ban cho con người quyền quản trị muôn loài, như Ngài có phán với A-đam “Hãy cai quản các loài cá dưới biển, loài chim trên trời và loài thú trên mặt đất” (Sáng Thế Ký 1:28). Như vậy, cả hai không có lý do gì để đổ lỗi cho con rắn, vì cả hai có toàn quyền trên con vật tầm thường này. Hơn nữa, chính A-đam đã nhận nghiêm lệnh từ Thượng Đế, rồi sau đó dặn dò với Ê-va, thì người đâu có lý do nào để “đổ lỗi” cho Ê-va đã dụ dỗ người bất tuân.

Trước những bào chữa vô giá trị, Thượng Đế đã tuyên án và lời tuyên án này không chỉ ảnh hưởng nặng nề trên A-đam và Ê-va, nhưng cho cả con cháu về sau, hay chính loài người chúng ta, trong đó có cả quý vị và tôi. Như đã tuyên bố trước, hậu quả của sự vi phạm là “chắc chắn sẽ chết”. Ngay từ giây phút phạm tội, thân thể con người bắt đầu suy thoái, để rồi chết và trở về bụi đất, như Thượng Đế tuyên phạt: “Là bụi đất, con phải trở về bụi đất” (Sáng Thế Ký 3:19). Ê-va thì “khốn khổ khi thai nghén; đau đớn khi sinh nở; dục vọng sẽ hướng về chồng, và sẽ bị chồng thống trị”. Đất đai bị nguyền rủa, A-đam phải khó nhọc, làm lụng vất vả mới có miếng ăn. Trước kia, A-đam được giao quyền cai quản thiên nhiên, thì giờ đây, con người phải phụ thuộc vào đất đai để sống mỗi ngày. Có những cây cỏ, thú rừng trước kia là vô hại và ích lợi cho A-đam và Ê-va, nhưng dưới bản án của Thượng Đế, đã trở nên độc hại và gai góc cho con người. Cuối cùng, thủy tổ của loài người đã bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng phước hạnh.

Bản án thật là nặng nề, nhưng cũng xứng hợp với sự vi phạm của A-đam và Ê-va, vì không phải miệng thèm ăn trái cấm, nhưng do lòng kiêu ngạo, muốn được trở nên ngang hàng với Thượng Đế, đã khiến cả hai bất tuân nghiêm lệnh.

Loài người ngày nay, là con cháu của A-đam và Ê-va, kế thừa bản tánh phạm tội và lòng kiêu ngạo của tổ tiên, cũng đang nỗ lực không ngừng để loại bỏ Thượng Đế ra khỏi đời sống. Thuyết tiến hóa được dựng nên để tước bỏ vinh quang của Đấng Tạo Hóa. Những tôn giáo với bao thần thánh được dựng nên để thay thế cho Chân Thần Duy Nhất. Nhân danh tự do và tiến bộ, những triết lý và luật lệ của con người đang thay thế dần cho những luật thánh được bày tỏ trong Kinh Thánh.

Quả thật, sau khi phạm tội, mặc dù thể xác có hoạt động, nhưng tâm linh con người đã cằn cỗi, chết khô từ lâu, mối giao thông với Thượng Đế đã bị cắt đứt. Con người từ đó cứ tiếp tục đắm sâu vào con đường diệt vong, với thế giới ngày nay đầy bất an, hận thù, chiến tranh, tang tóc, bệnh tật, đỗ vỡ, nghiện ngập, vô luân, tham lam và suy đồi đến mức tuyệt vọng. Nhìn thấy hệ quả đau thương này đang bày ra trước mặt quý vị và tôi mỗi ngày, có ai còn nghĩ việc “ăn trái cấm” của A-đam và Ê-va ngày xưa chỉ là “chuyện nhỏ” mà thôi?

Quý thính giả thân mến,

Tuy vậy, trong khi bày tỏ sự công bằng và thánh khiết tuyệt đối qua việc tuyên phạt A-đam và Ê-va thật nặng nề, Thượng Đế cũng bày tỏ lòng thương xót vô hạn đến con người, khi Ngài phán với con rắn: “Ta sẽ làm cho mầy và người nữ, dòng dõi mầy và dòng dõi người nữ thù nghịch nhau. Người ấy sẽ chà đạp đầu mày, còn mầy sẽ cắn gót chân Người.” (Sáng Thế Ký 3:15)

Thật vậy, trước khi sáng tạo vũ trụ, Thượng Đế đã biết trước A-đam và Ê-va sẽ phạm tội, nên Ngài đã chuẩn bị chương trình cứu rỗi, để mua chuộc loài người trở lại với Ngài. Chương trình cứu rỗi đó đã được thực hiện, khi cách đây hơn 2000 năm, Thiên Chúa Ngôi Hai đã tự nguyện giáng trần làm người. Hài nhi Giê-xu, được một nữ đồng trinh sinh ra, đúng như lời tiên tri đã loan báo ngay từ thời sáng thế, chính là Con Trời giáng hạ trong thân xác con người.

Khác với A-đam được đặt vào một nơi chốn đẹp đẽ và sung sướng, Chúa Cứu Thế Giê-xu được sanh ra trong một chuồng súc vật dơ bẩn, tồi tàn. Khác với cảnh thanh bình của vườn địa đàng nơi A-đam được tận hưởng, Chúa Giê-xu đã bị ruồng bắt ngay từ những giây phút đầu đời. Khác với tình trạng hoàn hảo của những ngày đầu sáng thế, Chúa Giê-xu đã bị đặt giữa chốn “chợ đời” ô uế, đầy dẫy những tội ác gớm ghê. Nhưng cũng khác với A-đam đã bất tuân Thượng Đế, thì Chúa Giê-xu đã vâng phục trọn vẹn, thậm chí vâng phục để chịu chết trên cây thập tự, lãnh thế món nợ tội cho muôn người, trong đó có quý vị và tôi. Vì sự vâng phục trọn vẹn khiến sự hy sinh của Con Trời trở nên của lễ chuộc tội hoàn hảo, khiến Thượng Đế hài lòng và sẵn sàng tha thứ vi phạm của bất cứ một ai biết ăn năn và tin nhận vào sự chết thế của Chúa Cứu Thế Giê-xu, như Kinh Thánh khẳng định: “Chỉ có một Thượng Đế, cũng chỉ có một Người Hòa giải giữa Thượng Đế và loài người, là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài đã hy sinh tính mạng để cứu chuộc nhân loại.” (1 Ti-mô-thê 2:5-6)

Quý thính giả thân mến,

A-đam và Ê-va vì kiêu ngạo nên đã bị kết án trong phiên tòa đầu tiên, còn tất cả chúng ta đều phải chết một lần, rồi bị phán xét trước phiên tòa cuối cùng. Kế thừa bản chất tội lỗi của tổ tiên, ai trong chúng ta sẽ thoát khỏi sự đoán phạt đời đời trong phiên tòa cuối cùng này, khi mọi hành vi bí mật nhất, những suy nghĩ thầm kín nhất sẽ được phơi bày trước mặt Đấng Tạo Hóa?

Thượng Đế nhân từ đang ban cho quý vị và tôi một cơ hội cuối cùng, qua sự hy sinh của Con Một của Ngài, để chúng ta được tha thứ và trở lại làm hòa với Đấng tạo dựng ra mình. Giờ đây là kỳ thuận tiện, hiện nay là ngày cứu rỗi! Xin quý vị hãy tiếp nhận món quà thiên đàng từ Chúa Cứu Thế Giê-xu ngay hôm nay trước khi quá trễ.

Thân chào quý vị và các bạn.