Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

“Chiếc Cầu Đã Gãy” mà chúng tôi muốn kể với quý vị hôm nay, không phải là hình ảnh của chiếc cầu Trường Tiền đã đi vào nhạc phẩm bất hủ của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, nhưng câu chuyện hôm nay nói về một chiếc cầu khác, không phải bằng sắt thép hay bê-tông, cũng chẳng do con người xây dựng nên, nhưng đây là một chiếc cầu thiên nhiên, được tạo hình một cách thật lạ.

Nếu quý vị có dịp đến Úc Đại Lợi và ghé qua tiểu bang Victoria, rồi lái xe từ thủ phủ Melbourne, chạy dọc theo bờ biển về phía tây nam, quý vị sẽ gặp một con đường nổi tiếng nhất nhì trên thế giới, mang tên “The Great Ocean Road”. Con đường thật khúc khuỷu nhưng rất ngoạn mục, lúc trèo đèo, khi xuống dốc, uốn vòng giữa khung cảnh đất trời non nước thật bao la và hùng vĩ, dài khoảng 243 cây số, chạy sát theo những bờ biển thật gồ ghề và hiểm trở, đã từng đánh đắm nhiều tàu buồm trong thế kỷ đầu lập quốc của Úc Đại Lợi. Bên cạnh những bờ biển cheo leo, con đường còn dẫn du khách đi qua những thị trấn thơ mộng, đánh dấu những cuộc di dân đầu tiên của người Âu châu vào đất nước “đượm sữa và mật” này.

Ở khoảng chặng cuối của con đường nổi tiếng này là vịnh Port Campbell, với một kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp, mà người dân địa phương đặt tên là “The Twelve Apostles”, mà chúng tôi xin tạm dịch là “Mười Hai Vị Sứ Đồ”. “The Twelve Apostles” là những cột đá vôi khổng lồ, với chiều cao hơn 50 thước, đứng chơ vơ giữa biển nước cuồng nộ, in đậm nét trên nền trời và nền biển xanh ngắt một màu. Bên dưới chân những cột đá hùng vĩ này là sóng nước bạc đầu dập vùi, gầm thép ngày đêm, làm tung tóe những mảng bụi nước mờ trắng xóa, tạo nên khung cảnh thiên nhiên sống động và hùng vĩ, đã khiến cho “The Twelve Apostles” trở thành một biểu tượng đẹp đẽ và đầy tự hào của tiểu bang Victoria.

Chính những xói mòn gây ra do sóng biển đã hình thành các cột đá vôi hùng vĩ này. Khi sóng đánh vào các bờ vách đá dọc theo biển, các phần đất mềm bị trôi cuốn đi, chừa lại một “bức tường” bằng đá cứng. Sóng biển tiếp tục xói mòn ở dưới chân của những bức tường đá này, ở hai bên khác nhau, tạo nên vô số những hang động. Dưới tác động liên tục của sóng nước, những hang động bên dưới chân của những bức tường đá, ở hai bên khác nhau, lan rộng và cuối cùng ăn thông với nhau, khiến bức tường đá trở nên một cái vòm, trông như một chiếc cầu. Lâu ngày, “nhịp cầu” bên trên cũng gãy đổ, để lại những “chân cầu” trơ trọi giữa biển, hay chính là những cột đá chơ vơ của “The Twelve Apostles” ngày nay.

Bên cạnh những cột đá khổng lồ này, vịnh biển Port Campbell một thời nổi tiếng với một chiếc cầu thiên nhiên, mà dân Úc ưu ái đặt tên là “London Bridge”. Đây là chiếc cầu “hai nhịp”, được hình thành do sự xói mòn của sóng biển vào bờ vách đá, như chúng tôi vừa mới trình bày. Vào ngày 15 tháng 5 năm 1990, “nhịp cầu” nối liền bờ của “London Bridge” đã bị sụp, khiến cho hai du khách đang ở trên “nhịp cầu” còn lại không còn đường quay vào đất liền. Rất may là trực thăng đã tức tốc cấp cứu, đưa hai du khác này vào bờ một cách an toàn. Người viết có dịp bước qua chiếc cầu “London Bridge” này khi nó vẫn còn là một chiếc cầu hai nhịp nguyên vẹn, chưa gẫy nhịp nào. Đứng trên chiếc cầu khổng lồ, ngắm nhìn sóng nước bao la, cảm giác của người viết là con người chỉ là “hạt muối bỏ biển”, thật là nhỏ bé so với thiên nhiên hùng vĩ. Trong lúc đó, trong lòng người viết dâng lên cảm súc kinh sợ trước quyền năng vô tận của Đấng Tạo Hóa, như tiên tri Ê-sai đã từng viết: “Ai đã lường nước biển với lòng bàn tay? Ai đã lấy thước đo các tầng trời? Ai đã cân bụi đất các đồi núi? Ai hướng dẫn Thần Chúa? Ai làm cố vấn cho Ngài? Chúa nhờ ai giúp ý kiến? Ai huấn luyện Ngài, và vạch cho Ngài con đường công chính? Ai dám dạy khôn và chỉ vẽ phương pháp nhận thức cho Ngài? Trước mặt Chúa, các quốc gia chỉ là một giọt nước trong thùng, giống như bụi bặm đặt lên cân. Chúa di chuyển các bờ biển như đồ chơi.” (Ê-sai 40:12-15)

Quý thính giả thân mến,

Như mọi người đều biết rằng chiếc cầu London Bridge được tạo nên do sự xói mòn gây ra bởi sóng biển, cũng như đại đa số tin rằng sóng biển phải tốn khoảng 20 triệu năm để bào mòn các bờ vách đá cheo leo để tạo nên chiếc cầu thiên nhiên tuyệt đẹp này. Do vậy, khi chiếc cầu thình lình bị sụp đã làm nhiều người sửng sốt, vì bằng chứng cho thấy sự bào mòn không cần đến hàng triệu triệu năm như nhiều người lầm tưởng, nhưng chỉ cần một thời gian rất ngắn, thì chúng ta đã chứng kiến được cảnh “vật đổi sao dời” rồi. Chỉ vào mùa hè năm 1956, khi Thế Vận Hội lần thứ 16 được tổ chức tại thủ phủ Melbourne, chiếc cầu London Brigde sừng sững trong thiên nhiên cùng với “The Twelve Apostles” được dùng làm biểu tượng cho tiểu bang Victoria, vậy mà không ai ngờ, chỉ 34 năm sau đó thôi, chiếc cầu thiên nhiên này đã không còn nguyên vẹn nữa.

Trước sự bào mòn quá nhanh, xảy ra ngay trước mặt, chúng ta nghĩ gì về giả thuyết “20 triệu năm” để hình thành cầu London Bridge và The Twelve Apostles? Những giả thuyết cho rằng trái đất, sự sống và con người được hình thành qua hàng tỷ tỷ năm có còn giá trị hay không, khi đối chiếu với những thay đổi mau chóng trong thiên nhiên đang bày ra mỗi ngày?

Thực ra, những khoảng thời gian dài như đến vô tận, nào hàng tỷ tỷ năm, là những con số tưởng tượng, xuất phát từ giả thuyết tiến hóa. Giả thuyết này cho rằng, vũ trụ và mọi vật, trong đó có con người chúng ta, chỉ là kết quả của những tương tác tình cờ, có tính ngẫu nhiên và vô mục đích. Thế nhưng giả thuyết tiến hóa với sự tình cờ ngẫu nhiên rất lúng túng trước sự sống phức tạp, tinh vi, lại có trật tự, có tổ chức cao với hệ thống hẳn hòi. Để giải thích điều này, giả thuyết tiến hóa lập luận rằng, đầu tiên những sinh vật đơn giản được hình thành do tình cờ hay ngẫu nhiên mà thôi, rồi trải qua hàng tỷ tỷ năm, với sự chọn lọc của thiên nhiên, đã tiến hóa thành những động vật cao cấp ngày nay. Giả thuyết này đưa ra “cái chìa khóa giải quyết vấn đề” là những khoảng thời gian dài đến bất tận, đến hàng tỷ tỷ năm, không ai có thể kiểm tra nỗi, để biến sự tình cờ thành sự hiện hữu, sự ngẫu nhiên thành những hệ thống tinh vi.

Chúng ta có thể dùng hình ảnh đơn giản sau đây để mô tả cốt lõi của giả thuyết tiến hóa như sau: Tình cờ có một dĩa bột, một dĩa đường, một ly nước và một ly sữa đặt cạnh nhau. Sau hàng tỷ tỷ năm đứng bên cạnh nhau, thế nào cũng có một “sự cố” khiến đường đổ vào bột, nước và sữa hòa với nhau trong một tỷ lệ tương xứng, rồi một cơn cháy rừng xảy ra đúng lúc, hay núi lửa bộc phát đúng thì, đã “nướng” cái hỗn hợp cân xứng này trở thành một cái bánh bông lan ngon tuyệt. Những ai ủng hộ giả thuyết tiến hóa có thể phản đối rằng, sự sống đầu tiên là những tế bào rất đơn giản, chứ không cần phải được “ngon lành” như cái bánh bông lan. Thực ra, khi công bố giả thuyết tiến hóa cách đây khoảng 150 năm, Charles Darwin hoàn toàn không biết rằng, ngay trong một tế bào sống đơn giản nhất, đều có chứa mẫu di truyền DNA, là một hệ thống sắp đặt thông tin phức tạp hơn một quyển tự điển. Cho nên, trên thực tế, không hề có một hình thức sống nào, dầu căn bản nhất, được xem là “đơn giản” như Charles Darwin đã từng giả định.

Trái ngược với giả thuyết tiến hóa, Kinh Thánh khẳng định “Thượng Đế là Đấng sáng tạo và trải các tầng trời ra, đặt địa cầu vào quỹ đạo, cho vạn vật sinh sôi nẩy nở, truyền sinh khí cho dân cư trên đất, và ban Thần Linh cho loài người sinh hoạt khắp thế giới”. (Ê-sai 42:5). Kinh Thánh là một quyển sách lịch sử, ghi chép những dữ kiện có thật và có thể kiểm tra được. Do vậy, dựa vào các sự kiện được ghi chép trong Kinh Thánh, các nhà nghiên cứu cùng đi đến một kết luận chung là lịch sử tạo hình của trái đất và sự sống là rất trẻ, chỉ khoảng 6000 năm trở lại thôi, là khoảng thời gian hoàn toàn có thể kiểm chứng được, so với con số hàng tỷ tỷ năm của thuyết tiến hóa, là khoảng thời gian vĩnh viễn chẳng ai có thể kiểm tra ra. Còn bằng chứng trong thiên nhiên cho thấy 6000 năm hay hàng tỷ tỷ năm?

Kính thưa quý thính giả,

Sau khi chiếc cầu London Bridge bị gẫy, một nhân viên phụ trách công viên quốc gia tại vịnh Port Campbell phát biểu rằng trước đó, anh không hề nghĩ có thể chứng kiến sự bào mòn quá nhanh của sóng biển ngay trong quãng đời của mình. Thế nhưng chưa hết, chỉ cách đây không lâu, vào tháng 7 năm 2005, một cột đá vôi khác của The Twelve Apostles cũng bị lở sụp, đất đá bị tan chảy ra trong lòng nước biển, khiến cho kỳ quan “Mười Hai Vị Sứ Đồ” cho đến giờ này chỉ còn là bảy cột đá cheo leo mà thôi.

Không những chỉ tại bờ biển tại Úc châu, nhưng sự xói mòn đang xảy ra thật nhanh chóng tại các bờ biển khắp nơi trên thế giới nữa. Các nhà địa chất học cho biết, bờ biển tại nước Anh, từ thời đế quốc La-mã, tức là cách đây hơn 2000 năm cho đến nay, bị xói mòn khoảng 3 cây số, đã phá hủy nhiều ngôi làng vùng duyên hải. Như vậy, nước Anh bị mất khoảng 1.5 thước đất dọc theo bờ biển mỗi năm. Nếu dựa theo giả thuyết tiến hóa, hòn đảo Anh quốc với chiều ngang khoảng 1500 km, hay chỉ cần khoảng một triệu năm để bị xói mòn toàn bộ, lẽ ra phải xóa tên trên bản đồ từ lâu rồi. Ngọn hải đăng cao ngất 63 thước, được xây dựng vào năm 1872 tại vịnh Cape Hatteras, thuộc miền bắc tiểu bang Carolina, Hoa Kỳ, đã được dời sâu vào đất liền khoảng 900 thước vào năm 1990, khi sóng biển đã xói mòn và lăm le chỉ cách chân tháp khoảng 35 thước mà thôi. Tốc độ bào mòn nhanh chóng của các bờ biển khắp nơi chứng tỏ trái đất còn rất trẻ, chỉ khoảng độ 6000 năm trở lại mà thôi, trùng hợp với các sự kiện ghi trong Kinh Thánh.

Giả thuyết tiến hóa vì không có bằng chứng, nên cho đến nay, vẫn chỉ là một giả thuyết không hơn không kém, thậm chí nhiều người chúng ta bị giả thuyết này “đánh lừa” với khoa học. Thực ra, những thành quả khoa học mà chúng ta được tận hưởng ngày nay, như máy vi tính, kỹ thuật truyền thông, y khoa hiện đại vv. là kết quả của ngành khoa học thực nghiệm, không hề dính dáng gì đến giả thuyết tiến hóa.

Hơn thế nữa, trong khi giả thuyết tiến hóa cho rằng mọi sự chỉ là tình cờ hay ngẫu nhiên, nhưng những con người tin kính vào Thượng Đế biết rằng công trình sáng tạo của Ngài có trật tự và quy luật chặt chẽ, nên đã dấn thân để khám phá ra những quy luật diệu kỳ đó và đây chính là nền tảng của khoa học với các nhà bác học tiền phong như John Dalton, Andre Ampere, Georg Ohm, Michael Faraday, Louis Pasteur, Isaac Newton vv.

Lịch sử cận đại cho thấy chủ thuyết Phát-xít của Đức Quốc Xã, chủ thuyết cộng sản, thái độ kỳ thị chủng tộc, cho người da đen là “kém tiến hóa”, đã đặt nền tảng trên thuyết tiến hóa, sản sinh ra những tên lãnh đạo đồ tể, vùi dập nhân loại vào vòng đau thương tang tóc trong suốt thế kỷ 20 vừa qua.

Quý thính giả thân mến,

Bất chấp công trình sáng tạo đẹp đẽ cùng những bằng chứng hiển nhiên, nhiều người vẫn nhất định phủ nhận Đấng Tạo Hóa, như Kinh Thánh có bày tỏ: “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Ngài, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Ngài. Do đó, họ không thể tự bào chữa được, vì tuy biết Thiên Chúa, họ đã không tôn vinh hay cảm tạ Ngài cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội. Họ khoe mình khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên rồ” (Rô-ma 1:19-22)

Còn cho những ai tin nhận vào Đấng Tạo Hóa, thì thiên nhiên đẹp đẽ mà chúng ta đang tận hưởng, chỉ là “màn mở đầu”, là “phần giới thiệu”, là món “entreé” mà thôi, vì thế giới này sẽ sớm qua đi và những ai trở về với Thượng Đế sẽ tận hưởng một thế giới toàn hảo cho đến vĩnh viễn, như lời Kinh Thánh có tiết lộ rằng “những điều chưa mắt nào thấy, chưa tai nào nghe và trí loài người chưa hề nghĩ tới, nhưng Thượng Đế dành sẵn cho người yêu mến Ngài.” (1 Cô-rinh-tô 2:9)

Quý vị lựa chọn giả thuyết tiến hóa ngẫu nhiên, vô mục đích hay lựa chọn một đời sống với ý nghĩa đầy trọn và sung mãn trong Đấng tạo dựng ra mình?

Thân chào quý vị và các bạn.