“God So Loved The Whole World” by Margaret Kiwiet – Tùng Trân chuyển ngữ

Đó là mùa đông năm 1944, một thời điểm rất khốn khổ. Mùa đông năm đó là một mùa đông khốn đốn nhất cho người dân Hòa Lan - cả cho những quốc gia bị phát-xít Đức đang chiếm đóng - bởi vì vào tháng chín trước đó, chúng tôi hy vọng quân đội đồng minh sẽ đổ bộ và chúng tôi sẽ được tự do.

Nhưng lính Mỹ và Anh không thể đột phá để vượt qua những con sông trong chiến dịch hành quân gần vùng Arnhem và những thành phố phía bắc của nước Hòa Lan vẫn còn bị chiếm đóng.

Đó là một mùa đông vô cùng lạnh lẽo tại vùng Groningen, nơi tôi được sinh ra và lớn lên. Chúng tôi chẳng còn hơi đốt, chẳng có lò sưởi và chúng tôi cũng hiếm khi có được đồ ăn.

Tuy vậy, chúng tôi vẫn tổ chức lễ mừng Chúa Giáng Sinh trong đêm giáng sinh tại nhà thờ chúng tôi.

Tôi đang đi bộ về nhà – mà tôi phải đi thật vội vã vì tôi phải về tới nhà trước bảy giờ tối – và tôi phải đi ngang qua căn nhà nơi những sĩ quan phát-xít Đức đóng quân và trú ngụ cùng với vợ của họ. Căn nhà này là một trong các tòa nhà cổ kính và xinh đẹp nhất của thành phố chúng tôi.

Nhưng tôi dừng lại - đầu tiên là do cái mùi của các đồ ăn. Lần theo sự hướng dẫn của khứu giác, tôi men tới cửa sổ của tòa nhà và tôi đứng đó để chỉ ngửi mùi đồ ăn và trong đầu thử đoán ra đó là những món gì. Trong đó chắc có món gà nướng, cái mùi nó mới thơm thiệt thơm. Do vậy mà tôi không thể rời cái chỗ mà mình đang đứng. Tôi phải đứng đó - để chỉ hít vào đầy phổi của mình cái mùi đồ ăn thật quyến rũ.

Rồi sau đó, tôi nghe họ bắt đầu hát “Đêm yên lặng, đêm thánh này”, khiến tôi chợt suy nghĩ: “Cái gì vậy cà? Đây là Thượng Đế của tôi mà. Đây là Chúa Giê-xu của tôi, đã giáng sinh cho tôi, chứ đâu phải cho họ. Họ đã giết hại bao nhiêu người; tàn phá bao quốc gia; họ đã cướp đi sự tự do của chúng tôi; bây giờ họ lại được ăn uống ngon lành”

Rồi một người trong bọn họ bắt đầu kể lại câu chuyện Cứu Chúa Giê-xu giáng sinh và tôi nghĩ điều này thật là quá sức chịu đựng của tôi.

Tôi về nhà tối hôm ấy mà lòng của tôi hết sức căm giận, bởi vì trước đó, tôi luôn luôn nghĩ rằng, thậm chí trong những lúc buồn thảm, trong những giây phút tệ hại nhất, ít nhất chúng tôi còn có Thượng Đế - rằng Thượng Đế ở cùng phía với chúng tôi. Trong buổi lễ Giáng Sinh trước đó tại nhà thờ, tôi cảm thấy được an ủi. Hầu như ai đi dự lễ tối hôm đó cũng đói mèm cả. Mùa đông thì thật lạnh, mà thời điểm đó lại đang chiến tranh nữa. Tuy vậy, Thượng Đế ở cùng phe với chúng tôi.

Ấy vậy mà, khi đi ngang qua căn nhà đó, ngửi mùi đồ ăn thật ngon lành và nghe họ kể lại câu chuyện Chúa Giê-xu giáng sinh khiến tôi vô cùng phẫn nộ. Tôi không muốn chia sẻ tình yêu của Thượng Đế đến với những tên phát-xít Đức khốn khiếp kia. Tôi ngủ thiếp đi trong cơn đói và cơn lạnh hồi nào không hay, trên má còn đọng những giọt lệ đầy cay đắng tủi hờn.

Cuối cùng thì tự do đã trở về vào mùa xuân năm 1945.

Tôi thường tâm sự với người bác ruột của tôi, cũng là mục sư của một nhà thờ và nói cho bác biết tôi đã cảm thấy tức giận như thế nào. Nhưng bác tôi bảo tôi: “Bác hiểu con, nhưng Thượng Đế là Thượng Đế của tất cả mọi người. Ngài có thể không thích những điều họ làm, nhưng Ngài là Thượng Đế của tất cả mọi người”.

Rồi mùa Giáng Sinh lại trở lại, tốt đẹp hơn nhiều lần vào năm 1945. Chúng tôi được trợ giúp đủ thứ, chúng tôi được tự do và chúng tôi náo nức mong đợi ngày lễ Giáng Sinh. Chúng tôi có thể đi lại bên ngoài đường phố, có thể đi khuya về trễ mà không còn phải lo lắng gì, vì lệnh giới nghiêm không còn nữa. Và tôi thấy trong lòng thật sung sướng và hạnh phúc.

Hai tuần trước ngày lễ Giáng Sinh, bác tôi gọi tôi lại và nói: “Nè Magaret, bác muốn cháu cùng đi với bác trong đêm Giáng Sinh để dự một buổi nhóm, rồi nhờ cháu ngâm một bài thơ, được không cháu?”

Tôi hỏi lại: “Buổi nhóm gì vậy bác?”

Bác tôi trả lời: “À, có một cái trại giữ những người đã làm việc cho phát-xít Đức trước đây”

Nghe đến đây, tôi nghĩ thầm, đây là những người còn tồi tệ hơn cả những tên lính Đức nữa, bởi vì đây là cũng là người Hòa Lan cả, ấy vậy mà lại phản bội lại với đất mình, dân tộc ruột thịt của mình. Tôi bèn trả lời bác tôi:

“Không được đâu bác ơi. Con không muốn đi đâu. Mà bác nghĩ làm sao mà bác lại làm như vậy, hả bác?”

Bác tôi đáp lại: “Bác chỉ muốn tổ chức một đêm mừng Giáng Sinh cho họ, có vậy thôi”

Tôi vội ngắt lời: “Thôi, bác đừng để con vào đó”

Bác tôi vẫn tiếp tục nói: “Bác nghĩ rằng buổi nhóm sẽ tuyệt vời lắm vì bài thơ mà bác nhờ con ngâm là một bài thơ rất hay đó”.

Rồi bác tôi hứa sẽ gởi bài thơ trước cho tôi. Đó là mẫu đối thoại giữa Chúa Cứu Thế Giê-xu và một người. Người đó hỏi Chúa Giê-xu như vầy:

“Vì sao Ngài phải giáng trần?
Vì sao Ngài chịu muôn phần đắng cay?”

Và Chúa Giê-xu đáp lại:

“Cho dầu chỉ một sanh linh,
Ta vẫn giáng thế, thập hình vui mang.
Một người trong cả thế gian,
Ta vẫn chết thế, mạng vàng hiến thân!”

Vào thời kỳ đó, người trẻ không được phép từ chối hay nói “không” với người trên như cha mẹ hay chú bác. Nhưng khi thấy tôi lưỡng lự muốn chối từ, bác tôi dành cho một ngạc nhiên thật thích thú: “Nè Magaret, lần này cháu không phải cỡi xe đạp đi dự nhóm đâu. Cháu sẽ đi bằng xe hơi đó!”.

Tôi chẳng bao giờ được leo lên xe hơi trong thật là nhiều năm. Do vậy, cuối cùng, tôi đã chịu leo lên xe và bác cháu cùng đi đến cái trại giam đó.

Tôi không thể quên được những con người này, những người bị giam trong trại. Đầu họ bị cạo bóng loáng, và ai cũng mặc đồ kẻ dọc giống nhau, đàn ông cũng như đàn bà. Tất cả đều tham dự nhóm và nhà thờ chúng tôi đã tới trại để tổ chức đêm Giáng Sinh cho họ.

Không ai trong bọn họ dám nhìn lên cả. Họ không tỏ ra thoải mái chút nào cả. Đây là lần đầu tiên họ gặp lại người Hòa Lan mà không phải là người thân trong gia đình của họ.

Tất cả bước vào phòng nhóm với đầu cúi thật thấp. Tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu trong lòng vì bấy lâu nay tôi luôn đoán xét họ, trong thâm tâm tôi rất xem thường họ. Dường như, tôi có mang một ít mặc cảm phạm tội khi gặp họ.

Căn phòng nhóm chẳng được trang hoàng gì, ngoại trừ có một cây thông thật to với những chiếc đèn cầy màu trắng thật lớn, cái loại đèn cầy thật mà người ta sử dụng mỗi ngày để đốt sáng trong đêm khi không có ánh sáng điện. Chúng tôi thắp sáng những cây đèn cầy lên. Chúng tôi hát “Đêm yên lặng, đêm thánh này”, rồi kể lại câu chuyện Chúa Cứu Thế Giáng Sinh, đi liền với sứ điệp “Vì Thượng Đế Yêu Thương Cả Thế Gian”.

Sau đó, tôi ngâm bài thơ Giáng Sinh.

Bài thơ chấm dứt với lời mời gọi của Chúa Giê-xu như vầy:

“Hỡi ai nặng gánh lo phiền,
Hãy đến yên nghĩ trong miền thảnh thơi.
Ta là nguồn nước từ trời,
Làm tươi mới lại cuộc đời héo hon,
Hãy trao gánh nặng của con,
Ta đây gánh thế, con còn gánh chi!”

Buổi nhóm đêm đó thật là đặc biệt và sau buổi nhóm, tôi thấy niềm hy vọng trở lại trong những ánh mắt của những người dự nhóm. Buổi nhóm hôm đó đã đem lại một sứ điệp tràn đầy hy vọng và sự tha thứ đến cho mỗi người. Và chính tôi cũng cảm nhận rằng, mình cũng cần được Thiên Chúa tha thứ.

Phải mất một quãng thời gian khá lâu tôi mới nhận ra rằng Thượng Đế của tôi cũng là Thượng Đế của mọi người, cũng là Thượng Đế của kẻ thù nữa.