Năm cuối sắp tốt nghiệp, vào tuần lễ cuối cùng của học kỳ mùa thu, tôi bị hai tên côn đồ dí súng vào mặt tôi. Sau khi thực hiện các hành động xâm phạm trên thân thể tôi, hai tên côn đồ này còn giựt cái túi đựng sách vở của tôi và biến mất vào trong đêm tối. Đó cũng chính là giây phút quyết định cho đời sống tâm linh của tôi, cũng là lần chạm trán trực tiếp đầu tiên của tôi với những tai họa và tội ác - và điều này chỉ đẩy tôi trở nên vô thần hơn, là điều mà tôi không muốn, nhưng giờ đây thật là hiển nhiên, vì Thượng Đế, Đấng mà tôi tin rằng đã lắng nghe lời cầu nguyện của tôi khi tôi còn bé xíu, giờ đây Ngài đã hoàn toàn tan biến khỏi cuộc đời tôi. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa tại sao tôi không thể thấy được, nghe được và cũng chẳng có thể sờ được đến Ngài. Thượng Đế rõ ràng là không có hiện hữu.
Hai tên côn đồ, khi cướp cái túi đựng sách vở của tôi, bọn chúng đã có trong tay chìa khóa nhà tôi ở, cùng với những giấy tờ cá nhân, khiến tôi không dám trở về nhà trong mấy tuần lễ liền, nhưng phải nương náu nơi nhà một người bạn, cho đến khi tôi nhờ được người tới thay ổ khóa mới cũng như đặt chấn song cho các cửa sổ. Tôi không dám đi ra khỏi nhà đến nửa bước vì khiếp sợ. Nhưng tôi phải đi đến lớp - ba lớp tôi đang phụ trách giảng dạy và hai lớp tôi đang theo học. Do vậy, mặc dầu sống trong lo sợ mỗi ngày, tôi buộc mình phải trở lại với công việc bận rộn của đời sống.
Tuần lễ đầu tiên thật là khốn khổ. Sau khi nghe tôi thuật lại câu chuyện không may của tôi, ai cũng khuyên là “tôi cũng nên mừng” vì tôi chưa bị giết chết, rằng tôi vẫn còn “may mắn” được sống sót. Học trò của tôi vô cùng phẫn nộ sau khi nghe tôi giải thích - trong hàng nước mắt đầm đìa của tôi trước mặt các em - rằng bài làm của các em trong cả một học kỳ giờ đã không còn nữa, và các em phải cho tôi biết kết quả của các bài làm trong suốt học kỳ qua để tôi cộng lại lấy điểm trung bình, hay các em phải viết lại bài thi vừa rồi, dựa vào các tờ giấy nháp nếu các em còn giữ các tờ giấy nháp này. Vì vậy, học trò của tôi đứng xếp hàng cả một hàng dài trước cửa văn phòng của tôi, mỗi em mang trong tay một mớ giấy tờ thật hỗn độn và nhàu nát, đó là chưa kể cha mẹ các em đang giận điên lên vì sự cố này.
Trong khi đó, tôi lại đứng ngồi không yên với ba tập bài làm của tôi, dày khoảng 50 trang, là tất cả những công việc cuối cùng để định đoạt của chuyện tốt nghiệp của tôi. Mọi giấy tờ ghi chú, mọi bản thảo, nằm trong cái túi đựng sách, đã bị ăn cướp, cùng với ba tập bài làm đã được hoàn tất, là những giấy tờ duy nhất mà tôi có, vì thời đó, tôi chưa có được máy vi tính cá nhân để lưu trữ. Bây giờ không còn ba tập bài làm nữa, tôi chẳng có gì để chứng minh cho những công việc tôi đã làm trong suốt cả một học kỳ.
Khi tôi đến gặp vị giáo sư đầu tiên để giải thích chuyện gì đã xảy ra, ông không tin tôi. Ông nói bài làm đã đến hạn nộp là ngày cuối của học kỳ. Vị giáo sư thứ nhì gia hạn cho tôi đến học kỳ mùa xuân tới, và như vậy là tôi phải bỏ ý định đi nghỉ mát vào dịp Giáng Sinh này.
Vị giáo sư thứ ba, một con người khả kính với làn da tái nhạt và mái tóc bạc trắng, lẽ ra phải được nghỉ hưu từ lâu, nhưng vẫn còn dạy học vì ông được nhiều người yêu cầu ở lại để tiếp tục giảng dạy môn văn chương thời phục hưng. Lớp học của ông thật đông và môn học này là khó nhất đối với tôi từ trước đến nay. Cả bọn học sinh chúng tôi đều rất sợ vì khó mà viết được những bài làm cho thật rành mạch và trong sáng để khiến ông thích thú hay khen ngợi. Tôi đến văn phòng ông mà lo sợ trong lòng.
Nhưng vị giáo sư cao niên này, người mà tôi chỉ biết như một bậc thầy uyên thâm, đứng xa xa giảng dạy từ trên bục giảng của thính đường, đã làm tôi ngạc nhiên vô cùng. Khi tôi kể lại câu chuyện thương tâm đầy sĩ nhục của mình, ông đã khóc, khóc thổn thức, khóc sướt mướt khiến tôi cũng không dằn lòng được mà phải òa khóc theo ông. Chúng tôi đã chia nhau cái hộp giấy lau nước mắt, và cũng chẳng nói năng được gì với nhau. Dường như ông không nghe khi tôi lí nhí xin gia hạn để viết lại bài làm, nhưng chỉ nói “Thầy cho em điểm A”, rồi với cặp mắt đỏ hoe, ông nói tiếp “Thôi em hãy quên chuyện đó đi”
Đây cũng là những giây phút quyết định cho đời sống tâm linh của tôi nữa. Tôi vẫn xem mình là một người vô thần, nhưng những giây phút thật cảm động này đã chạm đến tấm lòng của tôi, gợi tôi nhớ lại hình ảnh của một con người mang tên Giê-xu mà tôi đã học được tại các lớp Chúa Nhật thời còn thơ ấu. Dường như Chúa Giê-xu đang hiện diện bên cạnh tôi, trao cho tôi cả một hộp giấy mềm để lau nước mắt. Ngài không nói rằng tôi thật còn may mắn, Ngài cũng chẳng khuyên tôi nên mừng vì còn sống, nhưng Ngài đang đứng đó chỉ để khóc cho tôi và khóc với tôi.
Trong mười năm sau đó, tôi đi hết từ quốc gia này sang đến quốc gia khác, để tìm kiếm sự khuây khỏa, hầu che lấp nỗi trống vắng trong tâm linh. Tôi càng ngày càng trở nên đầy tự tin, thậm chí dầu không có tiền trong túi, cũng chẳng nói được ngôn ngữ địa phương, nhưng tôi vẫn sống sót bất cứ nơi nào tôi đi qua. Những thú vui cuộc đời này cũng thú vị lắm, nhưng nó chẳng làm tôi thỏa lòng. Trong những năm tháng lang thang như vậy, nỗi bực dọc vì Thượng Đế đã vắng bóng trong thế giới đau thương này, hay Ngài không còn lộ diện nữa, cứ ngày càng sâu đậm trong nỗi niềm mong đợi của tôi.
Trong những năm tháng lang thang này, hễ khi mùa Giáng Sinh đến, mặc dù không tin vào Thượng Đế, nhưng tôi vẫn ưa ngâm nga các bài ca Giáng Sinh, nhất là các bài với âm điệu chậm và buồn mà hồi nhỏ tôi không thích, bởi vì những bài này chẳng có gì là rộn rã giống như không khí Giáng Sinh chung quanh cả. “Ê-ma-nu-ên, hãy đến, hãy đến”. Tôi cứ ngâm nga theo âm điệu và lời hát, mà cũng không nhận ra “Ê-ma-nu-ên” có nghĩa là “Thượng Đế Ở Cùng Chúng Ta” là điều tôi thèm khát và thiếu thốn. Lời bài hát cũng vô tình nhắc nhở tôi sự trông đợi của nữ đồng trinh Ma-ri, mong đợi Thượng Đế ở cạnh bên nàng, mong đợi chấm dứt những nghi ngờ, mong đợi ngày hài sinh mà nàng đang mang thai được sinh ra. Mỗi lần nghe bài hát đó, nỗi tuyệt vọng và niềm hy vọng lại tranh chiến trong tôi, khiến tôi cứ bật khóc.
Rồi sau đó vài năm, tôi lập gia đình, tôi cũng có con nhỏ để ôm vào lòng, và sự mong đợi của tôi dần dần cũng chuyển thành niềm hy vọng vững chải hơn vào Thượng Đế, giống như Kinh Thánh có mô tả: “Đức tin là nắm chắc những gì mình hy vọng và vững tin vào những điều mình chưa thấy” (Hê-bơ-rơ 11:1). Mà thật vậy, được yên nghỉ trong niềm hy vọng chắc chắn đó làm vơi đi gánh nặng trong tâm hồn tôi.
Tuy vậy, mùa Giáng Sinh vẫn còn là một thời gian thật khủng khiếp với tôi, bởi vì nó gợi lại cái biến cố tôi bị cưỡng hiếp ngày nào, nhất là mùa Giáng Sinh năm 2001. Trước sự lo ngại của gia đình tôi, trong suốt cả tháng mười hai năm đó, tôi không làm gì cả nhưng chỉ nghe những bài nhạc thật buồn và rồi khóc. Tuy vậy, trong cái tháng thật khổ sở này, tôi chợt nhận ra rằng Chúa Giê-xu cũng đã khóc nữa. Ngài không chỉ khóc trước mộ của người bạn thân La-xa-rơ như sứ đồ Giăng đã ký thuật trong Kinh Thánh, nhưng Ngài cũng đã khóc từ những giây phút đầu đời nhất của Ngài trên thế gian này. Thật vậy, sự bày tỏ đầu tiên từ miệng hài nhi Giê-xu là tiếng khóc của một con trẻ trước những tai ương khủng khiếp đang chờ sẵn trong cuộc đời này.
Lần đầu tiên, tôi chợt nhận ra rằng, khi tôi đang chịu đựng nỗi khổ vì tai họa đã xảy đến với chính mình, là tôi cũng đang chia sẻ kinh nghiệm đau thương đó với Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài là Thượng Đế Ngôi Hai, nhưng Ngài bằng lòng từ bỏ mọi vinh quang thiên đàng, để giáng trần, để trở nên một con người, như Kinh Thánh có mô tả:
“Ngài vốn có bản thể làm một giống như Thượng đế.
Tuy nhiên, Chúa Cứu Thế không cố vị tham quyền là quyền hành tối linh thiêng bình đẳng với Đấng Tạo hóa.
Tình nguyện bỏ tất cả, mang thân thể con người.
Hình hài người khiêm ti, chịu thân phận nô tỳ.
Đi con đường vâng phục, chịu chết cách cực nhục.
Trên thập tự giá hy sinh.” (Phi-líp 2:6-8)
Vợ chồng Ma-ri và Giô-sép nghèo tới nỗi không thể lo được một căn phòng tạm được để hạ sinh hài nhi Giê-xu. Thế giới này chẳng màng gì đến Ngài, đến nỗi Ma-ri phải sinh hài nhi Giê-xu tại một chuồng súc vật bẩn thỉu. Chỉ có Giô-sép và Ma-ri sau chuyến hành trình thật mệt nhọc, cùng với bầy súc vật trong chuồng, chứng kiến tiếng khóc chào đời của hài nhi Giê-xu. Nôi hài nhi là máng cỏ để cho súc vật ăn. Mạng sống của hài nhi đã bị đe dọa khi còn nằm trong nôi, khi vua Do-thái vì muốn thủ tiêu Giê-xu ngay trong trứng nước, nên đã ra lệnh giết chết mọi con trai từ hai tuổi trở xuống. Kỷ niệm đầu đời của hài nhi Giê-xu là chuyến hành trình chạy trốn sang Ai-cập của Giô-sép và Ma-ri để lánh nạn.
Chúa Cứu Thế Giê-xu đã gánh chịu mọi nỗi khổ đau của con người - không chỉ là sự khó chịu khi hài nhi Giê-xu phải hít vào phổi lần đầu tiên luồng không khí lạnh lẽo và hôi hám nơi chuồng súc vật - nhưng Ngài phải gánh chịu bao sĩ nhục của một thế giới đầy cay nghiệt, lạnh lùng và tan vỡ.
Bỗng nhiên tôi cảm thấy được an ủi thật nhiều vì Thượng Đế mà tôi đặt hy vọng vào, cũng đã khóc như tôi đang khóc và Ngài khóc ngay từ những giây phút đầu đời nhất của Ngài. Ngài khóc vì những mất mát và đau thương của chúng ta, cũng như vị giáo sư già đã khóc cho tôi. Mặc dù Ngài chính là Thiên Chúa Ngôi Hai trong thân xác con người, nhưng Ngài đã khóc vì bị người ta hành hạ, vì bị người ta tra tấn dã man. Khi bị treo trên thập tự giá, Ngài phải hứng chịu bao tội lỗi ô uế của loài người chất lên Ngài, khiến Cha Ngài trên trời cũng phải gớm ghê mà ngoảnh mặt đi. Chính sự phân ly chia cắt này đã khiến Ngài đã bật khóc mà la lên rằng: “Thượng Đế ơi! Thượng Đế ơi! Sao Ngài lìa bỏ con?” (Ma-thi-ơ 28:46)
Khoảng 700 năm trước Giáng Sinh, tiên tri Ê-sai đã loan báo:
“Này, một trinh nữ sẽ chịu thai,
Và sinh hạ một Con trai,
Đặt tên Em-ma-nu-ên” (có nghĩa là “Thượng Đế ở với chúng ta”) (Ma-thi-ơ 1:23 & Ê-sai 7:14)
Lời tiên tri này đã được ứng nghiệm cách đây hơn 2000 năm, khi Thượng Đế Ngôi hai, giáng hạ thành người, trong một hài nhi mang tên Giê-xu, đặt nằm trong nơi máng cỏ hôi hám, bẩn thỉu.
Thượng Đế ở cùng với chúng ta trong những oan khiên, khổ nhục mỗi ngày của một con người.
Thượng Đế ở cùng với chúng ta để khóc cho chúng ta và khóc với chúng ta.
Thượng Đế ở cùng chúng ta để chia sẻ, để gánh thay, để chết thế cho món nợ tội của chúng ta.
Thượng Đế ở cùng chúng ta để ban cho chúng ta niềm hy vọng.
Vì những ai đặt niềm hy vọng vào Con Thượng Đế, thì Thượng Đế sẽ tiếp tục ở cùng người ấy trong nơi vĩnh hằng, khi những đau thương, khổ nhục của đời người chỉ còn là một quá khứ xa xôi…