Phát Thanh Hy Vọng

Kính thưa quý thính giả,

Lãnh thổ bao la của đế quốc Nga ngày nay, vào những ngày hoang dã xa xưa, là vùng đất có rất nhiều bộ lạc tranh giành và chiếm đóng. Những bộ lạc nào chiếm đóng được vùng đất săn bắn tốt, có nhiều thú rừng, đất đai mầu mỡ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, thường là những bộ lạc hùng mạnh nhất, có được người tù trưởng khỏe mạnh, dũng cảm và đầy ngôn khoan hướng dẫn cả bộ lạc.

Có một câu chuyện kể lại rằng một bộ lạc hùng mạnh kia, mà bí quyết thành công của bộ lạc đó, phần lớn, nhờ vào sự công bằng và đầy khôn ngoan trong những luật lệ của bộ lạc đó, do chính vị tù trưởng đầy khôn ngoan thiết lập và bắt buộc mọi người phải nghiêm chỉnh thi hành.

Một ngày nọ, người ta báo cáo đến vị tù trưởng rằng có một người trong bộ lạc đang ăn cắp. Vị tù trưởng liền tuyên bố, khi tên ăn cắp đó bị bắt, sẽ bị phạt 10 roi và chính viên trưởng đội hành quyết sẽ đích thân ra tay để thực thi hình phạt này. Bất chấp lời cảnh cáo này, hiện tượng mất cắp vẫn tiếp diễn, khiến vị tù trưởng phải tiếp tục cảnh cáo, đồng thời gia tăng số roi lên mỗi ngày. Nhưng cho đến một ngày kia, vị tù trưởng không thể gia tăng số roi lên thêm được nữa, khi hình phạt đưa ra đã lên tới 40 roi, vì vị tù trưởng này biết rằng, ngoài chính ông ra, không ai có thể chịu đựng đến 40 roi mà còn sống sót.

Rồi một ngày kia, kẻ ăn trộm đã bị bắt và trước sự sững sờ của tất cả mọi người trong bộ lạc, kẻ ăn trộm chính là người mẹ già nua của ngay chính vị tù trưởng. Mọi người hồi hộp không biết người lãnh đạo của mình sẽ xử sự như thế nào. Một trong những luật lệ của bộ lạc này là, con cái phải thương yêu và kính trọng cha mẹ của mình, nhưng một luật khác quy định rằng, ăn cắp là một tội trọng và kẻ ăn cắp phải bị đánh roi một cách công khai, trước mặt tất cả mọi người. Khi ngày thực thi hình phạt càng đến gần, cả bộ lạc tranh luận càng gay gắt. Liệu vị tù trưởng sẽ vì lòng thương mẹ mà tha cho người mẹ già nua của mình, hay ông sẽ nghiêm chỉnh làm theo y như luật lệ do chính ông quy định và cả bộ lạc đang triệt để thi hành, để nhìn người mẹ ruột của mình nhận lãnh đúng 40 roi và chết mất trong đau đớn?

Cuối cùng thì cái ngày khủng khiếp đó đã đến. Cả bộ lạc kéo vây quanh lại giữa một khu đất trống, mà ở giữa, người ta đặt một cái cột thật to. Sau đó, vị tù trưởng xuất hiện và ngồi vào chiếc ngai danh dự của mình. Hai chiến sĩ lực lưỡng của bộ lạc mang ra người mẹ già nua, yếu ớt của vị tù trưởng ra khoảng đất trống và trói bà vào cái cột. Cuối cùng thì viên trưởng đội hành quyết, một gã lực lưỡng, cao lớn, với hai cánh tay để trần, lộ rõ những bắp thịt vạm vỡ, săn cứng, bước ra với chiếc roi da thật dài trên tay. Khi viên đội trưởng hành quyết tiến gần tới hơn người đàn bà nhỏ thó già nua, thì hai chiến sĩ đứng bên cạnh bèn lột áo bà ra, để lộ một cái lưng già cong queo yếu ớt.

Viên đội trưởng hành quyết đứng tấn một cách vững chải, cánh tay lực lưỡng quất thử một lằn roi vào không khí, tiếng roi xé gió giật răng rắc nghe thật rợn người, như để chuẩn bị trước khi quất lằn roi phạt đầu tiên vào thân thể tội nhân trước mặt.

Chỉ ngay lúc đó, thì vị tù trưởng giơ tay lên, ra dấu dừng lại việc thi hành án phạt. Mọi người có cảm giác như vừa trút đi một gánh nặng. Vị tù trưởng của họ là một người có lòng thương mẹ, thế nhưng còn luật lệ công bằng mà bộ lạc đã quy định thì sao?

Vị tù trưởng sau đó bước xuống khỏi ngai ghế của mình và đi về phía người mẹ già ốm yếu đang bị trói vào cái cột. Vừa đi, vị tù trưởng vừa cởi chiếc áo khoác uy quyền rực rỡ của mình và vứt nó qua một bên. Khi đến bên mẹ, vị tù trưởng ôm choàng lấy bà trong cánh tay to lớn, dùng cả tấm thân trần che lấy tấm thân ốm yếu già nua. Vị tù trưởng chìa ra chiếc lưng trần lực lưỡng của mình về phía viên đội trưởng hành quyết.

Xé tan bầu không khí yên lặng và nặng nề, vị tù trưởng ra lệnh lớn tiếng: “Hãy lập tức thi hành hình phạt”.

Quý thính giả thân mến,

Câu chuyện thật cảm động vừa rồi minh họa những gì con người mang tên Giê-xu đã làm cho loài người, cho mỗi chúng ta, cho chính quý vị và cho chính tôi.

Thật vậy, tất cả chúng ta đều đã phạm tội với Thượng Đế là Đấng đã tạo dựng, bảo bọc, nuôi dưỡng và chu cấp cho chúng ta mỗi ngày, như Kinh Thánh đã khẳng định: “Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa” (Rô-ma 3:23).

Giống như người mẹ già của vị tù trưởng, vì phạm tội ăn cắp, nên hình phạt quy định cho bà là bị đòn roi, thì tội lỗi sẽ khiến chúng ta phải nhận lãnh cái chết, như chính Thượng Đế đã tuyên phán: “Ai phạm tội, kẻ ấy phải chết” (Ê-xê-chi-ên 18:4).

Cái chết không phải là điều tự nhiên. Cái chết không nằm trong chương trình sáng tạo tốt lành của Thượng Đế, nhưng cái chết là hệ quả tất nhiên của vô số những tội lỗi chồng chất trong một đời người, như triết gia Phao-lô có tiết lộ: “Lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là cái chết” (Rô-ma 6:23).

Cái chết chẳng chừa một ai cả. Người nghèo chết thì người giàu cũng chết. Kẻ khố rách áo ôm chết thì các bậc đế vương cũng chết tuốt. Hạng lưu manh, kẻ lường gạt chết thì bậc hiền triết, người quân tử cũng chẳng thoát được cái chết. Người vô thần, kẻ “trách trời mắng đất” chết thì các bậc tu hành, các giáo chủ cũng chỉ sống được một thời rồi cũng chết cả.

Mọi người đều phải chết, vì mọi người đều có một cái hẹn không sao tránh được, đã được ấn định với Đấng Tối Cao. Mọi người đều phải chết, để rồi trở về trước mặt Đấng Tạo Hóa, bị phán xét tùy theo các việc mình đã làm, như Kinh Thánh có tuyên bố: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27).

Như vậy, chết không phải là hết, nhưng sau cái chết là cuộc hẹn mà không ai có thể lỗi hẹn. Chết không phải là hết, nhưng sau cái chết là cuộc đối mặt với Đấng Tối Cao trong phiên tòa kinh khiếp không ai tránh được.

Ai trong chúng ta dám nghĩ rằng mình vô tội, chẳng một lần lầm lỡ với Trời, với người?

Ai trong chúng ta đoan chắc rằng, công đức tu hành, làm lành, tích đức của mình, đủ có thể xóa bôi được vô số những vi phạm, những lỗi lầm?

Ai nghĩ rằng mình sẽ hoàn toàn trắng án trước sự công bình tuyệt đối của Đấng mà Kinh Thánh mô tả: “Ngài không bao giờ coi tội nhân là vô tội” (Na-hum 1:3)

Sau sự phán xét là cái chết thứ hai đến với mỗi người, hay sự phân ly đời đời giữa tội nhân và Thượng Đế.

Quý thính giả thân mến,

Bên cạnh bản tính công bình, không bao giờ xem nhẹ tội lỗi, Thiên Chúa còn là tình yêu nữa.

Bên cạnh bản tính thánh khiết trọn vẹn, không thể nhìn xem tội lỗi, Thiên Chúa còn là Đấng nhân từ vô hạn nữa.

Cảm thương loài người bị tội lỗi trói buộc trong vòng nô lệ, không sao tự mình giải thoát được.

Cảm thương chúng ta, dầu cố gắng đến đâu, cũng không sao trở nên trọn vẹn được.

Cảm thương quý vị và tôi không sao tránh được bản án phạt kinh khiếp trong chốn hồ lửa đời đời.

Cho nên ngay từ giây phút đầu tiên, khi thủy tổ loài người phạm tội, Thiên Chúa đã hoạch định một chương trình để cứu chuộc con người ra khỏi cảnh khổ đau vĩnh viễn.

Và chương trình cứu chuộc này đã được hoàn tất cách đây khoảng hơn 2000 năm, khi Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài giáng trần, sinh ra trong một con người mang tên Giê-xu.

Chúa Cứu Thế Giê-xu chính là Thiên Chúa Ngôi Hai, tuy mang thân xác loài người, nhưng đời sống hoàn toàn vô tội và do vậy Ngài là một con người duy nhất trọn vẹn, thỏa mãn những đòi hỏi công chính của Thiên Chúa.

Chính Thiên Chúa đã sai Con Một của mình đến thế gian, để rồi trở nên Người Chết Thế, lãnh trọn hình phạt tội lỗi thế cho muôn người, trong đó có quý vị và tôi.

Chính Thiên Chúa đã sai Con Yêu Dấu của mình đến với chúng ta, để rồi Con Trời tự nguyện chết đau thương trên cây thập tự, làm Của Lễ Chuộc Tội trọn vẹn cho loài người.

Chúa Cứu Thế Giê-xu đã tỏ ra khiêm nhường, từ bỏ ngôi thiên đàng vinh quang, giáng sinh làm người, để rồi hứng chịu cái chết đau thương, trả thế cho quý vị và tôi món nợ tội của chúng ta, cũng giống như vị tù trưởng đã rời ngai ghế danh dự của mình, bước xuống, ôm mẹ vào lòng, đưa lưng ra để hứng trọn 40 lằn roi phạt đau đớn, thế cho mẹ của mình đã phạm tội ăn cắp.

Chúa Cứu Thế Giê-xu đã giang đôi tay, ôm trọn và chở che chúng ta vào lòng của chính mình Ngài, trong khi đưa lưng hứng chịu cơn thịnh nộ của Thượng Đế đang giáng trên chính con người của Ngài.

Mùa Thương Khó là để suy niệm về tình yêu vô hạn của Đấng Tạo Hóa đến với con người bất toàn, được thể hiện qua sự hy sinh chết thế của Con Trời trên cây thập tự, như Kinh Thánh có nhắc nhở: “Nhìn hành động đó, chúng ta hiểu được đâu là tình yêu đích thực: không phải chúng ta yêu Thượng Đế trước, nhưng Thượng Đế đã yêu chúng ta, sai Con Ngài đến hy sinh chuộc tội chúng ta.” (1 Giăng 4:10)

Cây Thập Tự

Kính thưa quý thính giả,

Hình ảnh của cây thập tự được nhìn thấy ở khắp mọi nơi.

Trên nóc các giáo đường. Trên các dây chuyền đeo trên cổ của quý bà, trên cổ của các vận động viên đang tranh tài, hay trên ngực của các ca sĩ nhạc rock đang trình diễn.

Cây thập tự cũng đến với nhiều kiểu cách. Bằng gỗ. Bằng vàng sang trọng. Bằng bạc bóng loáng, thậm chí có cẩn thêm cả kim cương lấp lánh nữa.

Người ta cũng suy nghĩ về cây thập tự rất khác nhau. Đó là biểu tượng của tình yêu. Đó là biểu tượng của hòa bình. Đó là biểu tượng của lòng nhân đạo, như Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế đã sử dụng nó.

Cũng nhiều khi, người ta cũng chẳng còn nhớ cây thập tự có ý nghĩa gì. Vì đã từ lâu, cây thập tự được đã trở nên một hình ảnh quen thuộc và xinh đẹp trong cái nhìn của rất nhiều người.

Có phải trải qua hơn 2000 năm, thời gian đã xóa nhòa cái hình ảnh ghê rợn của cây thập tự?

Hay có phải chính cái chết của Chúa Cứu Thế Giê-xu trên cây thập tự, trên đồi Gô-gô-tha cách đây khoảng 2000 năm trước, đã biến hình ảnh của một công cụ tra tấn và giết người dã man nhất, trở nên một biểu tượng hy vọng sáng chói nhất cho muôn người?

Quý thính giả thân mến,

Hình phạt xử tử bằng cách treo lên và đóng đinh vào cây thập tự chỉ dành cho những người nô lệ, những kẻ mạt hạng cùng khốn trong các quốc gia bị trị của đế quốc La-mã một thời.

Đầu tiên, nạn nhân thường bị đánh đập tàn nhẫn với da roi, đầu có bịt móc sắt, rứt ra từng mảng thịt để lộ đến xương và nhiều khi nạn nhân đã tắt thở trước khi bị treo lên cây thập tự.

Khi bị treo trên cây thập tự, cái chết đến với nạn nhân thật là chậm rãi, kéo dài nỗi đớn đau cho đến khi nạn nhân kiệt sức vì ngạt thở. Khi hai tay bị đinh đóng và bị treo lên, thân thể nạn nhân bị kéo trì xuống, khiến lồng ngực bị đặt trong tư thế hít vào. Để thở ra, nạn nhân phải dùng chân nhớm người lên, khiến cho chiếc đinh đóng ngay cổ chân sẽ tiếp tục phá toạc vết đinh đóng và chiếc lưng nạn nhân cọ xát thật đớn đau vào thanh gỗ thô nhám phía sau.

Và cứ như vậy, nạn nhân phải nhớm lên để thở ra rồi tụt xuống để hít vào, vết đinh ở hai cổ tay và hai cổ chân càng lúc càng toạc ra, lưng trầy rướm máu, cho đến khi nạn nhân không còn sức để nhớm lên mà thở ra nữa, phổi và máu đầy thán khí cho đến khi nạn nhân hoàn toàn kiệt sức mà tắt thở.

Vào năm 2004, tài tử điện ảnh kiêm nhà sản xuất phim Mel Gibson đã phát hành cuốn phim “The Passion Of The Christ”, hay “Sự Khổ Nạn Của Đấng Christ” để kỷ niệm sự Thương Khó của Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Cuốn phim đã lột tả thật sống động và thật chi tiết những cảnh tượng cùng cực mà Con Trời phải gánh chịu, kể từ khi Người bị bắt từ vườn Ghết-sê-ma-nê, bị hạch hỏi, bị vu oan, bị điệu từ tòa án này cho đến tòa án kia, bị cười nhạo báng, bị người ta nhận trên đầu mão đầy gai nhọn làm rướm máu, bị tước áo quần, bị đánh đập bằng roi da, thân thể bầm dập loang vết máu, bị phỉ nhổ, bị bắt vác thập tự, phải lê thân tàn tạ lên trên đồi, bị treo lên cây thập tự thật sĩ nhục và bị chết cực kỳ đau đớn.

Đúng là Chúa Cứu Thế Giê-xu phải gánh chịu nỗi sĩ nhục tận cùng.

Đúng là Con Trời phải chịu muôn phần đau đớn.

Nhưng nỗi sĩ nhục trước mặt mọi người và sự đau đớn của thân thể mà Con Trời phải nhận lãnh, vẫn không sao so sánh được với niềm đau lớn lao nhất, khi bao tội lỗi ô uế của loài người chất lên trên Chúa Cứu Thế Giê-xu trong giờ phút thập hình, khiến Chúa Cha phải ngoảnh mặt mà xa lánh Con Một yêu dấu của mình.

Sự đau đớn trong thân xác vẫn không sao sánh được với sự đau đớn trong tâm linh, khi sự gắn bó đời đời giữa Con Trời và Chúa Cha phải bị tan vỡ, trong giây phút Chúa Cứu Thế Giê-xu gánh thế tội lỗi cho muôn người trên cây thập tự.

Kính thưa quý thính giả,

Sự đau đớn tột cùng mà Chúa Cứu Thế Giê-xu phải gánh chịu trên thập hình nói lên hệ quả nghiêm trọng của tội lỗi của loài người.

Sự đau đớn tột cùng mà Con Trời phải gánh thay trên cây gỗ, bày tỏ tình yêu vô hạn của Thượng Đế đến với mỗi con người bất toàn.

Sự sĩ nhục tột cùng mà Thiên Chúa Ngôi Hai phải mang lấy, bày tỏ đây là con đường cứu rỗi duy nhất cho mỗi chúng ta, bởi nếu loài người có thể tự tu thân, tích đức, nhờ triết lý hay đạo đức mà có thể tự cứu được mình, chắc chắn Đấng Tối Cao đã không chọn giải pháp cực nhục này.

Lẽ ra quý vị và tôi phải chịu sĩ nhục, phải chịu đòn roi, phải chịu đóng đinh, phải bị chia cắt đời đời với Đấng Tạo Hóa, phải đi vào hỏa ngục, vì điều này xứng hợp với tội lỗi của mỗi chúng ta.

Nhưng Con Trời không hề phạm tội đã bằng lòng gánh lấy mọi hình phạt thay cho chúng ta, để khi quý vị và tôi bằng lòng ăn năn, tin vào sự chết thế của Ngài, thì quý vị và tôi được Thiên Chúa tha tội, được xem như chưa hề phạm tội, được thoát được bản án phạt đời đời và được vào nơi phước hạnh trong vĩnh cửu, như chính Kinh Thánh khẳng định: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, để ai tin nhận Đấng ấy sẽ không bị hư mất nhưng được sự sống vĩnh phúc” (Giăng 3:16)

Kính thưa quý thính giả,

Nhân chứng Mác có tường thuật lại những chi tiết trong giờ phút đau thương của Chúa Cứu Thế Giê-xu như sau:

Người ta giải Chúa đến dinh Thầy Tế lễ tối cao.

Tại đây, các thầy trưởng tế, các trưởng lão và các thầy dạy luật đã họp mặt đông đủ. Các thầy trưởng tế và cả Hội đồng Quốc gia tìm bằng chứng để khép Chúa vào tội tử hình, nhưng không tìm được. Nhiều người vu cáo Chúa đủ điều, nhưng lời chứng của họ mâu thuẫn nhau.

Sau đó, có người đứng lên tố cáo: “Chúng tôi nghe người này dọa: ‘Ta sẽ phá nát Đền Thờ do con người xây cất, rồi trong ba ngày sẽ dựng một Đền Thờ’.”

Ngay điểm này, lời tố cáo của họ cũng không phù hợp nhau.

Thầy Tế lễ tối cao đứng dậy giữa Hội đồng, hỏi Chúa Giê-xu: “Sao? Anh trả lời thế nào về lời tố cáo đó?”

Chúa Giê-xu vẫn im lặng, không đáp một lời.

Thầy Tế lễ tối cao hỏi tiếp: “Anh có phải là Chúa Cứu Thế, Con Thượng Đế không?”

Chúa Giê-xu đáp: “Phải! Rồi đây các ông sẽ thấy tôi ngồi bên phải ngai của Thượng Đế, và cỡi mây trời trở lại trần gian.”

Thầy Tế lễ tối cao xé áo mình, tuyên bố: “Chúng ta cần gì nhân chứng nữa! Quý Ngài vừa nghe tận tai lời phạm thượng. Vậy quý ngài quyết định thế nào?”

Các lãnh tụ Do-thái đều đồng ý lên án tử hình Chúa Giê-xu. Người ta khạc nhổ vào mặt Chúa, bịt mắt Chúa, đánh đấm Ngài rồi nói: “Thử đoán xem, ai vừa đánh anh đó?” Bọn tuần cảnh cũng vả vào mặt Ngài và giải đi.

Ngay sáng hôm sau, các thầy trưởng tế, các trưởng lão, các thầy dạy luật và cả Hội đồng Quốc gia họp nhau thảo luận. Họ xiềng Chúa Giê-xu thật chặt và giải Ngài qua tổng trấn Phi-lát.

Phi-lát hỏi Chúa: “Anh có phải là Vua dân Do-thái không?” “Phải” Chúa đáp.

Các thầy trưởng tế tố cáo Ngài nhiều tội.

Phi-lát hỏi Chúa: “Anh không trả lời gì hết sao? Người ta tố cáo anh đủ điều đó!” Chúa Giê-xu vẫn không đáp, khiến Phi-lát rất ngạc nhiên.

Hằng năm đến lễ Vượt qua, Phi-lát có lệ phóng thích một người tù theo thỉnh nguyện của nhân dân. Năm ấy có Ba-ra-ba bị giam trong ngục cùng một số phạm nhân can tội cố sát, nhân cuộc nổi dậy chống chính quyền La-mã. Dân chúng kéo đến xin Phi-lát phóng thích một người tù theo thông lệ.

Phi-lát hỏi: “Các anh muốn ta tha Vua dân Do-thái không?”

Vì Phi-lát biết rõ các thầy trưởng tế bắt Chúa nộp cho ông chỉ vì lòng ganh ghét.

Nhưng các thầy trưởng tế sách động quần chúng yêu cầu Phi-lát phóng thích Ba-ra-ba. Phi-lát hỏi lại: “Còn người các anh gọi là Vua dân Do-thái, ta phải xử sao đây?”

Họ hét lớn: “Đóng đinh nó trên cây thập tự!”

Phi-lát hỏi gặn: “Tại sao? Giê-xu có tội gì đâu?” Nhưng họ nổi lên gầm thét: “Đóng đinh nó trên cây thập tự!”

Để mua chuộc lòng dân, Phi-lát phóng thích Ba-ra-ba. Còn Chúa Giê-xu, ông sai đánh đòn rồi giao cho quân lính đem đóng đinh trên cây thập tự.

Quân lính La-mã giải Chúa vào dinh tổng trấn, rồi tập họp cả đại đội. Chúng mặc cho Ngài tấm áo màu tía, bện chiếc mũ bằng gai đội lên đầu Ngài. Chúng giả vờ chào: “Lạy Vua dân Do-thái!” rồi lấy gậy đập lên đầu Chúa, khạc nhổ vào mặt Chúa, và quỳ gối lạy. Chế giễu xong, chúng cởi áo màu tía ra, mặc áo dài lại cho Chúa, rồi dẫn Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự.

Si-môn, người xứ Ly-bi, vừa từ thôn quê lên Giê-ru-sa-lem, bị bọn lính bắt vác cây thập tự cho Chúa. (Si-môn là cha của Á-lịch-sơn và Ru-phu).

Bọn lính giải Chúa lên đồi Gô-gô-tha (nghĩa là đồi Sọ). Chúng cho Ngài uống rượu pha nhựa thơm, nhưng Ngài không uống.

Bọn lính đóng đinh Chúa trên cây thập tự. Chúng gieo súc sắc chia nhau bộ áo của Ngài, mỗi người lãnh một phần.

Chúa bị đóng đinh vào khoảng 9 giờ sáng.

Tấm bảng tội trạng ghi mấy chữ: “Vua dân Do-thái.” Bọn lính cũng đóng đinh hai tướng cướp trên cây thập tự, một tên bên phải, một tên bên trái Chúa.

Việc xảy ra đúng như lời tiên tri trong Thánh kinh: “Ngài bị kể vào hàng phạm nhân.”

Khách qua đường lắc đầu, sỉ nhục Chúa: “Ha! Anh đòi phá nát Đền Thờ rồi xây lại trong ba ngày! Sao không tự giải cứu và xuống khỏi cây thập tự đi!”

Các thầy trưởng tế và các thầy dạy luật cũng chế nhạo: “Nó cứu người khác giỏi lắm mà cứu mình không nổi! Này, Chúa Cứu Thế, Vua dân Do-thái! Phải xuống khỏi cây thập tự cho chúng tôi thấy, chúng tôi mới tin chứ!” Hai tên cướp bị đóng đinh với Chúa cũng sỉ nhục Ngài.

Từ 12 giờ trưa, khắp nơi đều tối đen như mực cho đến 3 giờ chiều. Đúng 3 giờ, Chúa Giê-xu kêu lớn: “Thượng Đế ơi! Thượng Đế ơi! Sao Ngài lìa bỏ Con?”

Chúa Giê-xu kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trong Đền Thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới.