Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Nếu bạn là một công dân trong một đất nước tự do dân chủ, nhà cầm quyền không đưa ra một danh sách dài liệt kê những điều cấm bạn không được nói, thì bạn thật là một người may mắn.

Bởi vì, cho đến ngày nay, vẫn còn có những nơi trên thế giới, người ta phải đổi lấy mạng sống mà vẫn chưa có được quyền tự do ngôn luận, để được nói lên những nhận định khách quan hay được bày tỏ các cảm nghĩ trung thực của chính mình.

Thế mới biết, lời nói mang một sức mạnh to lớn, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến nỗi có thể lung lay cả quyền lực, cho nên các chế độ chính trị độc tài phải bịt miệng người dân, buộc phải cất đi khỏi họ quyền tự do ngôn luận.

Tuy vậy, nếu bạn đang sống trong một quốc gia tự do và dân chủ, bạn có được quyền tự do ngôn luận, thì phải chăng điều này đồng nghĩa là bạn có quyền “muốn nói gì thì nói”?

Cho dù một người có được quyền tự do ngôn luận, nhưng cũng vì lời nói mang một sức mạnh to lớn, cho nên người đó cần phải suy xét thận trọng về những ảnh hưởng và hậu quả mà lời nói của mình sẽ mang đến.

Bàn về việc sử dụng đúng đắn quyền tự do ngôn luận của một công dân trong một đất nước tự do cởi mở, thẩm phán Oliver Wendell Holmes, thuộc Tối Cao Pháp Viện của Hoa Kỳ, đã minh họa như sau: “Quyền tự do ngôn luận không có nghĩa là bạn có quyền tự nhiên la to lên “cháy, cháy” trong một rạp hát đang đầy nghẹt người”.

Quyền tự do ngôn luận cho phép người ta nói thật, nói thẳng với nhau, mà không sợ bị uy hiếp hay bị áp đảo, nhưng điều này không có nghĩa là bạn muốn nói gì thì nói.

Trong quyển sách nổi tiếng “The Purpose Driven Life”, đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ, trong đó có Việt ngữ, với tựa đề “Sống Theo Đúng Mục Đích”, Mục sư Rick Warren giải thích như sau:

“Sự thẳng thắn không phải là một giấy phép để bạn muốn nói gì thì nói, muốn nói ở đâu thì nói hay muốn nói khi nào thì nói. Thẳng thắn cũng không phải là thô lỗ. Lời nói thiếu suy nghĩ sẽ để lại những vết thương lâu dài. Như sứ đồ Phao-lô khuyên người cộng sự trẻ tuổi của mình là Ti-mô-thê, trong công tác chăm sóc hội thánh như sau: “Con đừng nặng lời quở trách người lớn tuổi nhưng lễ phép khuyên giải họ như cha. Phải khuyên bảo thanh niên như anh em, phụ nữ lớn tuổi như mẹ, thiếu nữ như chị em, với lòng trong sạch hoàn toàn” (1 Ti-mô-thê 5:1-2)

Quý thính giả thân mến,

Mỗi khi bạn cần thổ lộ một điều gì với ai đó, và bạn cảm thấy cần phải bắt đầu câu chuyện như thế này: “Lẽ ra tôi không muốn cho anh biết điều này…” thì chắc chắn đây là dấu hiệu lương tâm bạn đang lên tiếng cảnh cáo rằng, bạn không nên nói ra những điều này ra một chút nào hết.

Nữ văn sĩ Dorothy Nevill có một lời khuyên thật hay như vầy: “Nghệ thuật nói không chỉ là biết nói những điều đáng nói ở nơi chốn thích hợp, nhưng cũng biết giữ im lặng về các điều không nên nói vào những lúc ta bị cám dỗ nhất”.

Thật vậy, có nhiều lúc chúng ta bị “cám dỗ” để nói ra những điều không nên thổ lộ. Đó là lý do mà vua Đa-vít phải cầu nguyện như vầy: “Lạy Chúa, xin cử người canh gác miệng tôi; xin gìn giữ môi tôi” (Thi Thiên 131:3)

Bởi vì vua Đa-vít biết rằng cái lưỡi tuy bé nhỏ, nhưng có thể gây ra những tội lỗi gớm ghê, như sách Châm Ngôn 6:16-19 có ghi:

Có sáu điều Chúa ghét
Và bảy điều Ngài ghê tởm:
Con mắt tự cao;
Lưỡi dối trá;
Bàn tay đổ máu vô tội;
Lòng toan tính những âm mưu gian ác;
Chân vội vàng chạy đến điều dữ;
Nhân chứng gian thốt ra lời dối trá;
Kẻ gieo điều bất hòa giữa vòng anh em.

Trong bảy tội lỗi mà Đấng Tạo Hóa ghê tởm, thì có ba điều là do cái lưỡi gây nên. Đó là “lưỡi dối trá”, “nhân chứng gian” và “gieo điều bất hòa”.

Do vậy, bạn và tôi, từ rày về sau, nên quên đi cái huyền thoại giả dối là “có quyền tự do ngôn luận thì ta muốn nói gì thì nói”.

Kính thưa quý thính giả,

Chắc chắn chúng ta đã từng chứng kiến, có người buông ra những lời nói, dường như nửa đùa nửa thật, thật thiếu tế nhị, thật thiếu cảm thông, thậm chí hạ thấp nhân phẩm hay hạ nhục người nghe. Khi nạn nhân cảm thấy bất bình hay nóng giận vì lời nói vô ý thức đó, người nói bèn đổi giọng điệu:

“Ấy da, mình chỉ giỡn chơi chút mà!”
“Nè, sao vậy? Bộ giỡn chút xíu hổng được sao?”
“Nè, chỉ nói đùa thôi! Sao hổng có máu tiếu lâm chút nào vậy cà?”
“Nè, sao bồ nhạy cảm quá vậy?”

Có nhiều người trong chúng ta còn cho rằng, nếu có lỡ miệng làm tổn thương ai , thì mình chỉ cần lấp liếm rằng “mình chỉ nói đùa thôi mà” là xong hết, chẳng có gì đáng để lo lắng hay đáng để ân hận cả.

Sách Châm Ngôn 26: 18 -19 trong Kinh Thánh mô tả trường hợp này như sau: Kẻ lừa đảo bạn bè, rồi bảo: “Đùa đấy thôi !” thì cũng như người giả vờ điên, phóng lửa, bắn tên gây chết chóc.

Như vậy, khi một người gây ra lời nói tổn thương, gieo mầm mống nghi ngờ, phá hoại hạnh phúc của người khác, để rồi lấp liếm rằng “tôi chỉ đùa thôi mà”, thì cũng lố bịch như một người giả điên, giả khùng để phóng lửa vào nhà người khác hay bắn tên gây họa. Dĩ nhiên, lời chối quanh “tôi chỉ đùa chút thôi mà” cũng không khiến người gây họa tránh được hậu quả do trọng tội mình gây nên.

Kính thưa quý thính giả,

Có một số người trong chúng ta còn xem nhẹ lời nói, cho rằng lời nói cũng như cơn gió thoảng qua, trong phút chốc rồi cũng tan biến, trong một lát rồi sẽ vĩnh viễn qua đi. Thế nhưng có phải trong đời sống mỗi ngày, ai trong chúng ta cũng vương vấn hoài một vài lời nói “để đời”? Có phải có những lời đã nói ra từ lâu lắm, nhưng thanh âm vẫn cứ mãi vang vọng trong tâm thức chúng ta?

Đó có thể là một lời dữ, cắt tận vào ruột gan ta, khắc lên vết thẹo vĩnh viễn trong tâm trí của bạn và tôi.

Đó cũng có thể là một lời lành, đã từng giúp chúng ta thoát ra một lối cụt của cuộc đời, đưa cuộc đời chúng ta vào một khúc rẽ vô cùng quan trọng.

Lời nói, cho dầu đã được nói ra từ lâu lắm rồi, nhưng ảnh hưởng của lời nói đó vẫn có thể kéo dài đến vô tận.

Tại tiểu bang Tennessee, Hoa Kỳ, trong một ngôi làng quê kia ở dưới một chân núi, có một đứa con trai được sinh ra mà nó không hề được biết cha nó là ai. Những năm tháng tuổi thơ của nó là những chuỗi ngày khổ sở, bởi vì hễ nó đi tới đâu trong làng, hễ gặp ai, thì mọi người đều hỏi nó rằng: “Ê, thằng kia, cha mày là ai vậy hả?”

Dường như là tất cả mọi người trong ngôi làng, trong cả cái vùng quê kia đang kiếm cách để truy tìm cho ra cái lý lịch của cha thằng bé ngoại hôn kia. Do vậy, hễ nó đi đâu, trong trường học hay ngoài phố chợ, ai ai cũng hỏi nói với chỉ một câu: “Ê, thằng kia, cha mày là ai vậy hả?”

Đôi khi cũng có những người ở làng khác tới, không biết chuyện thằng bé, hỏi câu hỏi này một cách thật tình. Nhưng thông thường, thì người ta hỏi câu hỏi này với một giọng nói đầy mỉa mai và khinh miệt. Đi đâu, nó cũng nghe người ta hỏi câu hỏi này, riết rồi nó đâm ra rụt rè và kinh sợ mọi người.

Trong trường, đến giờ ra chơi hay giờ ăn trưa, nó len lén tìm chỗ trốn các học sinh khác. Nó chẳng bao giờ dám chường ra chốn công cộng đông người, vì câu hỏi của họ như những nhát dao đâm thấu vào tim can nó. Tuy vậy, vào ngày Chúa Nhật, nó luôn đi nhà thờ và thường lẻn ra sớm hơn mọi người, để tránh đi những tia nhìn thiếu thân thiện, hay tránh đi những câu hỏi mà nó không sao có thể trả lời được.

Khi cậu bé lên 12 tuổi, có một vị mục sư khác mới, vừa thuyên chuyển về để lo cho ngôi nhà thờ trong làng. Trong ngày Chúa Nhật đầu tiên, vị mục sư này chấm dứt buổi nhóm sớm hơn thường lệ, khiến cậu bé bị bất ngờ, không thể lẻn ra sớm như những lần trước, nhưng buộc phải ra cửa cùng lúc với tất cả mọi người khác. Vị mục sư này đứng trước cửa để bắt tay chào mọi người, và khi thấy cậu bé đi ra cửa chỉ có một mình, ông quàng cánh tay mình lên vai cậu bé và hỏi: “Chào con. Nè, cha con là ai vậy?”

Bỗng nhiên, đám đông trở nên thật yên lặng. Còn cậu bé cảm thấy khuôn mặt của mình nóng bừng lên, vì nó nhận ra mọi cặp mắt của đám đông đang trố nhìn về phía mình. Thằng bé sẽ trả lời ra sao? Cuối cùng thì mọi người sẽ được biết câu trả lời. Bí mật bấy lâu nay, giờ sẽ được phơi bày.

Ngay lúc đó, vị mục sư nhận ra được sự lúng túng và ngượng ngùng của cậu bé.

Cảm nhận sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh, ông liền nói tiếp theo sau câu hỏi của mình:

“Đợi một chút. Mục sư biết con là ai rồi. Mục sư nhận ra khuôn mặt của con rồi. Con là một đứa con của Đức Chúa Trời!”.

Nói đến đây, vị mục sư nắm lấy đôi vai của cậu bé, nhìn thẳng vào đôi mắt cậu ấy và nói:

“Nè con, con được thừa hưởng một gia tài lớn lắm. Hãy đi và nhận cái gia tài đó !”

Một nụ cười thật lớn nở trên khuôn mặt cậu bé ấy. Ngày hôm đó, khi bước ra cửa nhà thờ, cậu bé ấy đã trở thành một con người hoàn toàn khác, vì những lời mà vị mục sư đã nói với cậu ấy. Kể từ ngày đó, hễ khi có ai hỏi cậu ấy về cha của mình, cậu ấy trả lời lại rằng: “Tôi là một đứa con của Đức Chúa Trời”.

Lời nói đầy chân tình và khích lệ của vị mục sư đã biến đổi cuộc đời của cậu bé ấy.

Cậu học hành thành tài, làm việc thật tích cực, gặt hái nhiều thành công và được nhiều người nể trọng.

Quý thính giả thân mến,

Cậu bé ấy chính là Ben Walter Hooper, sau này đã trở thành thống đốc của tiểu bang Tennessee tại Hoa Kỳ.

Thế mới biết lời nói mang một sức mạnh vô song!

Do vậy, bạn và tôi không được phép “muốn nói gì thì nói”.

Bạn và tôi cũng không nên “muốn nói gì thì nói” rồi kèm theo sau câu nói lấp liếm “tôi chỉ nói đùa thôi mà”.

Bạn và tôi cũng không nên quên, lời nói dầu có qua đi, nhưng ảnh hưởng của nó có thể còn lại mãi mãi.

Thân chào quý vị và các bạn.