Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Giáng Sinh là một sự kiện lịch sử quan trọng nhất, xảy ra cách đây hơn 2000 năm, khi Đấng Tạo Hóa sai Con Một của Ngài đến thế gian này, nhập thế làm người, trong một hài nhi mang tên Giê-xu.

Hài nhi Giê-xu không phải là một tạo vật mới, nhưng chính là Đấng Tạo Hóa giáng sinh, hóa thân thành một con người như mỗi một chúng ta, để sống giữa vòng nhân loại.

Chúa Cứu Thế Giê-xu được người nữ đồng trinh sinh ra, với đời sống thánh khiết và trọn vẹn từ thuở lọt lòng, để rồi mới có thể trở nên một của tế lễ toàn hảo dâng lên Thiên Chúa, chịu hy sinh lãnh món nợ tội cho muôn người, chết thay cho toàn nhân loại trên cây thập tự.

Theo những sử kiện Giáng Sinh được ghi chép trong Kinh Thánh, thì sau khi nhận được lời báo tin của vị thiên sứ, nàng trinh nữ Ma-ri đang cư ngụ tại vùng Na-xa-rét, xứ Do-thái, được thụ thai bởi quyền năng thiên thượng.

Giô-sép, lúc ấy đang còn đính hôn với Ma-ri. Sau khi được thiên sứ hiện đến và giải thích về chương trình cứu rỗi nhân loại qua hài nhi Giê-xu, Giô-sép mới ưng thuận cưới Ma-ri làm vợ để bảo bọc bào thai thánh.

Khi ngày sinh nở hài nhi Giê-xu sắp đến, xảy ra sự việc hoàng đế Augustus ra chiếu chỉ kiểm tra dân số toàn đế quốc La-mã, trong đó có xứ Do-thái đang ở dưới sự cai trị của La-mã thời bấy giờ. Theo lệnh của hoàng đế, thì mọi người phải trở về quê quán của mình để đăng tên vào sổ bộ. Vì Giô-sép quê quán ở Bết-lê-hem, cho nên chàng phải rời Na-xa-rét, đem Ma-ri cùng đi, trở về lại làng quê của mình, cách đó khoảng 80 dặm đường bộ về phía nam.

Khi đến Bết-lê-hem thì Ma-ri chuyển bụng sinh nở. Tiểu thôn Bết-lê-hem, bình thường vốn vắng lặng, nay bỗng đông đúc khắp thập hương trở về quê quán để đăng tên vào sổ bộ. Các nhà trọ không còn chỗ, cho nên Ma-ri phải sinh con trai tại một chuồng súc vật, đặt hài nhi Giê-xu vào một máng cỏ.

"Nào là thiên sứ đến báo tin. Nào là còn trinh nữ nhưng mang thai do quyền năng thiên thượng.

Thế nhưng tại sao lại phải lặn lội trên con đường bộ gập ghềnh đầy hiểm trở gần một tuần lễ, trong lúc sắp sinh nở, để đến nơi tiểu thôn Bết-lê-hem bé nhỏ này?

Tại sao Con Thiên Chúa lại giáng sinh trong nơi máng cỏ dơ bẩn và nghèo nàn như vậy?"

Trong lúc còn mệt nhoài, phần vì đường xa, phần vì vừa mới sinh con, phần vì ngạc nhiên về nơi chốn sinh nở thật dơ bẩn tầm thường, thì Ma-ri càng ngạc nhiên hơn nữa, khi một nhóm người chăn chiên, áo quần rách rưới và bẩn thỉu, tìm đến chuồng chiên, xin được ra mắt hài nhi Giê-xu, để được chiêm ngưỡng Con Trời vừa giáng hạ.

Tại sao những người chăn chiên này lại biết nơi sinh hạ của hài nhi Giê-xu mà tìm đến?

Tại sao họ biết đây là Con Trời giáng hạ mà tìm đến tôn thờ?"

Sử gia Lu-ca ghi chép và giải thích sự việc lạ lùng này như sau:

"Trong vùng đó, có mấy người chăn chiên ở ngoài đồng, thức đêm canh bầy chiên.

Một thiên sứ của Chúa hiện đến, hào quang Chúa tỏa sáng chung quanh nên họ rất khiếp sợ.

Thiên sứ bảo: "Đừng sợ! Vì này tôi báo cho các anh một Tin Mừng, một niềm vui lớn cũng là Tin Mừng cho mọi người.

Hôm nay, tại thành Đa-vít, một Đấng Cứu Thế vừa giáng sinh cho các anh. Ngài là Chúa Cứu Thế, là Chúa.

Đây là dấu hiệu cho các anh nhận ra Ngài: Các anh sẽ gặp một hài nhi bọc trong khăn đặt nằm trong máng cỏ."

Bỗng nhiên, một đạo thiên binh xuất hiện cùng với thiên sứ ấy, ca ngợi Đức Chúa Trời:

"Vinh danh Thiên Chúa trên trời.

Bình an dưới đất cho người Ngài thương."

Sau khi các thiên sứ lìa họ về trời, mấy người chăn chiên rủ nhau: "Chúng ta hãy vào thành Bết-lê-hem, xem việc vừa xảy ra mà Chúa đã cho ta hay!"

Họ vội vàng ra đi, tìm gặp được Ma-ri với Giô-sép, và thấy hài nhi đang nằm trong máng cỏ. Thấy vậy, họ thuật lại lời thiên sứ nói về hài nhi.

Ai nghe cũng đều ngạc nhiên về những lời tường thuật của mấy người chăn chiên. Còn Ma-ri thì ghi khắc những lời ấy và để tâm suy nghiệm" (Lu-ca 2:8-19)

Quý thính giả thân mến,

Chung quanh tiểu thôn Bết-lê-hem là những cánh đồng cỏ và những sườn đồi, rất phù hợp cho việc chăn nuôi chiên. Chính vua Đa-vít lừng lẫy của dân tộc Do-thái, cũng xuất thân là một người chăn chiên từ tiểu thôn Bết-lê-hem này.

Những người chăn chiên thường phải thức đêm để canh bầy chiên. Họ chia một đêm thành bốn canh: lúc chiều tối, lúc nửa đêm, lúc chạng vạng hừng đông gà gáy và lúc bình minh; rồi thay phiên nhau canh gác; khi người này thức gác thì người khác được ngủ nghỉ trong lều hay trên mái canh.

Họ phải canh gác bầy chiên vào ban đêm, để bảo vệ bầy súc vật khỏi nanh vuốt của đám chó sói hay lũ chồn cáo, hay đám trộm cướp ưa hành động vào lúc tối trời.

Đời sống của những người chăn chiên thường rất cô đơn, lam lũ, phải đối diện thường xuyên với những nguy hiểm và thường cũng rất nghèo khổ. Họ là những người cùng khổ của xã hội thời bấy giờ.

Ấy vậy mà, sự cùng khổ của họ cũng chưa thấm vào đâu, khi so với một nỗi bất hạnh khác mà họ phải gánh chịu. Đó là, theo lễ nghi tôn giáo của xứ Do-thái, thì những người chăn chiên bị liệt vào loại "dơ bẩn" hay "ô uế". Trong công việc mỗi ngày, họ phải ra tay để giúp đỡ đẻ cho chiên, tay họ phải dính máu; hay họ phải mang xác chiên chết đi chôn, tay họ bị dính vào xác chết. Khi chiếu theo luật lệ tôn giáo xứ này, vì tay người chăn chiên thường dính máu hay dính vào xác chết, nên họ không còn được xem là "tinh sạch", không còn được xứng đáng để bước vào đền thờ như bao nhiêu người khác. Họ là những người bị đền thờ hay tôn giáo loại bỏ ra ngoài.

Những người chăn chiên còn bị trói chặt trong một cái vòng lẩn quẩn, không sao thoát ra được. Không những họ bị liệt vào hạng "ô uế và dơ bẩn", nhưng họ còn phải luôn luôn có mặt với bầy chiên để chăm sóc chúng, cho nên họ chẳng bao giờ có được cơ hội để đi đến đền thờ, để được dâng của lễ chuộc tội hầu làm cho mình được "sạch" trở lại cả. Họ là những con người cùng đường tuyệt vọng, không có một lối thoát cho cuộc đời.

Từng đêm, từng đêm dài, họ thức đêm để canh giữ bầy chiên. Cuộc đời họ như một đêm đen kéo dài đến bất tận, trong nỗi tuyệt vọng khốn cùng.

Cho đến một đêm kia, cách đây hơn 2000 năm, thì bóng đêm đen tuyệt vọng của đời họ đã hoàn toàn tan biến. Một thiên sứ đã hiện ra với họ trong đêm trong lúc họ thức khuya canh giữ bầy chiên; vinh quang Thiên Chúa tỏa rực khắp bầu trời khiến họ thoạt tiên vô cùng hoảng sợ.

Những con người cùng khổ này, những con người bị đền thờ và tôn giáo loại bỏ này, những con người bị trói chặt trong cảnh cùng đường này, bỗng nhiên trở thành những con người hưởng được vinh dự lớn lao nhất, là những người đầu tiên nhất, nhận được bản tin quan trọng nhất đến từ thiên sứ, về một sự kiện quan trọng nhất và mầu nhiệm nhất: đó là Đấng Tạo Hóa giáng sinh, hóa thân thành người, đến viếng thăm thế giới do chính Ngài sáng tạo, để rồi cứu chuộc tạo vật dấu yêu nhất của Ngài trở về nơi chốn phước hạnh đời đời.

Thiên Chúa báo tin sự giáng sinh của Con Một của Ngài, đến với những người chăn chiên nghèo khổ cùng đường đầu tiên hết, bởi vì đó là tin vui dành cho tất cả mọi người, kể cả những người nghèo hèn thấp kém nhất trong chính ta.

Con Trời cũng giáng hạ nơi chuồng chiên máng cỏ đơn sơ, để những người chăn chiên thấp hèn cũng có thể đến được với Ngài mà thờ lạy, bởi vì bất kỳ ai cũng có thể đến thật gần với Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Vinh quang rực rỡ của Thiên Chúa, trong lịch sử của tuyển dân Do-thái, trước đó chỉ bày tỏ ra cho các vị tiên tri, các bậc vua chúa. Nhưng chỉ duy trong đêm Chúa Cứu Thế Giê-xu giáng sinh, vinh quang rực rỡ đó được bày tỏ cho những người nghèo khổ cùng đường, như một tiếng kèn báo hiệu thời kỳ ân điển của Thiên Chúa đang mở rộng ra cho tất cả mọi người, như lời tiên tri đã được loan báo khoảng 700 năm trước đó về sứ mạng của Con Trời rằng:

"Ngài sai Ta đi băng bó những tấm lòng tan vỡ, tuyên cáo cho các nô lệ được tự do, và mở cửa ngục tù để phóng thích những người bị xiềng xích, để công bố năm đặc ân của Chúa và ngày tưởng thưởng của Thiên Chúa, để an ủi tất cả những người tang chế khóc than, để nức lòng ca ngợi thay vì buồn rầu nặng trĩu, để họ được gọi là những cây sồi công chính, do Chúa trồng để làm đẹp mặt Ngài" (Ê-sai 61:1-3)

Người Chăn Nhân Từ

Kính thưa quý thính giả,

Cách đây hơn 2000 năm, Thiên Chúa Ngôi Hai đã giáng sinh thành người, trong một hài nhi mang tên Giê-xu, do nữ đồng trinh Ma-ri sinh ra, trong một chuồng chiên tầm thường, tại tiểu thôn hiu quạnh Bết-lê-hem.

Thiên sứ đã hiện ra đầu tiên hết với những người chăn chiên ở ngoài những cánh đồng chung quanh, lúc đó đang thức đêm để canh giữ bầy chiên, để báo tin cho họ về tin vui giáng sinh trọng đại.

Những người chăn chiên cùng khổ nhất, là những người nhận được tin vui giáng sinh đầu tiên hơn ai hết, vì Thiên Chúa muốn tuyên bố rằng, Con Một của Ngài giáng sinh là cho tất cả mọi người, kể cả những người thấp hèn và tuyệt vọng nhất, không phân biệt một ai.

Cũng còn có một lý do khác vì sao Thiên Chúa lại ban cho những người chăn chiên cùng khổ này đặc ân nhận được tin vui giáng sinh và được ra mắt hài nhi Giê-xu trước hết.

Theo như luật định tại xứ Do-thái, hằng năm người ta phải chọn một con chiên đực đầu lòng, không tì vết, để làm của tế lễ dâng lên cho Thiên Chúa. Con chiên tế lễ phải bị giết trên đền thờ, máu chiên phải đổ ra, để chuộc tội thế cho người dâng, bởi vì "Theo Kinh Luật...không đổ huyết thì không có sự tha tội" (Hê-bơ-rơ 9:22)

Đền thờ tại thủ đô Giê-ru-sa-lem là nơi người Do-thái hằng năm đi đến trong mùa Lễ Vượt Qua để dâng chiên làm của lễ chuộc tội. Tiểu thôn Bết-lê-hem với những cánh đồng cỏ và các sườn đồi chăn chiên, cách thủ đô Giê-ru-sa-lem chỉ khoảng vài cây số, là nơi cung cấp chiên để làm của tế lễ trong đền thờ.

Thực ra, những con chiên đực bị giết để làm của tế lễ hằng năm trong đền thờ, chỉ là của lễ chuộc tội tạm thời, chỉ là hình ảnh tượng trưng cho một của lễ chuộc tội hoàn hảo và đời đời, mà Thiên Chúa hứa ban cho nhân loại, được tiên tri Ê-sai có loan báo khoảng 700 năm trước Giáng Sinh rằng:

"Người bị áp bức và khổ sở nhưng không hề mở miệng. Như chiên bị dẫn đi làm thịt, như cừu câm nín đứng trước kẻ hớt lông; Người không hề mở miệng.

Người đã bị ức hiếp, xử đoán và giết đi. Nhưng Chúa bằng lòng để người bị chà đạp và đau đớn, khi người dâng mạng sống mình làm tế lễ chuộc tội" (Ê-sai 53:7,10)

Hài nhi Giê-xu sinh ra nằm trong máng cỏ, chính là Chiên Con đến từ Thiên Chúa, là Đấng giáng sinh, vâng phục trọn vẹn, bằng lòng bị giết, trở nên con sinh tế toàn hảo, làm của lễ chuộc tội một lần đủ cả cho toàn nhân loại, như sứ giả Giăng Báp-tít có tuyên bố: "Đây là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng xóa tội lỗi cho nhân loại" (Giăng 1:29).

Những người chăn chiên nghèo chung quanh tiểu thôn Bết-lê-hem, hằng ngày chăm sóc bầy chiên, hằng đêm phải thức đêm để trông nom và giữ gìn chúng; vì thế giữa họ và bầy chiên có sự gần gũi và quyến luyến.

Có phải vì vậy, mà họ được đặc ân ra mắt hài nhi Giê-xu trước hết?

Bởi vì, trong đêm kinh hoàng khi Con Trời giáng sinh, có ai hơn những người chăn chiên nghèo khổ này, có thể hiểu thấu được tấm lòng xâu xé đớn đau vô cùng tận của Thiên Chúa, vì quá thương xót loài người đang đắm chìm tuyệt vọng trong tội lỗi, cho nên phải lựa chọn hy sinh chính Con Một yêu dấu của Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu giáng sinh xuống trần, để rồi sẽ bị giết, bị đổ huyết ra, để chuộc tội cho muôn người.

Quý thính giả thân mến,

Chúa Cứu Thế Giê-xu không so sánh mình với những hình ảnh mà thế gian tôn trọng, nhưng Ngài tự so sánh mình như những người chăn chiên nghèo khổ đến chiêm bái Ngài trong đêm Ngài giáng sinh thành người.

Chính Ngài có kể cho các thầy dạy luật một ngụ ngôn như vầy: "Trong các ngươi có ai nuôi một trăm con chiên, nếu một con thất lạc, người ấy không bỏ chín mươi chín con kia trong đồng hoang, lặn lội đi tìm cho ra con chiên lạc hay sao? Khi tìm được, người ấy vui mừng vác nó lên vai về nhà, mời bạn hữu láng giềng đến, hớn hở nói: 'Hãy chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên thất lạc!" (Lu-ca 15:4-6)

Con chiên lạc, có thể là do bị rơi xuống hố, bị kẹt nơi một hốc đá hay bị vướng một bụi gai nào đó, không tự mình cứu thoát được. Hình ảnh con chiên lạc cũng chính là hiện trạng của nhiều người trong chúng ta, đang lạc mất trong tội lỗi, đang bị vướng vào xích xiềng của bóng tối, đang ngơ ngác cách xa thiên đàng vời vợi, vô phương không sao tự giải thoát được.

Trước hiện trạng lạc mất trong tội lỗi của bạn và tôi, Chúa Cứu Thế Giê-xu đã không bằng lòng trong nơi thiên đàng Ngài ngự, nên đã giáng trần, bấp chấp mọi hiểm nguy, cho dù phải hy sinh cả tánh mạnh, lặn lội đi tìm kiếm mỗi chúng ta, để rồi vui mừng "vác lên vai" và đem chúng ta trở về trong phước hạnh đời đời, như Ngài từng nói: "Ta là người chăn nhân từ. Người chăn nhân từ hy sinh tính mạng vì đàn chiên" (Giăng 10:11).

Trong đêm Giáng Sinh, thình lình có vô số thiên binh xuất hiện trên bầu trời, ca ngợi Đức Chúa Trời rằng:

"Vinh danh Thượng Đế trên trời. Bình an dưới đất cho người Ngài thương."

Sự bình an chỉ đến với một người, khi người đó có tội với Đấng Tạo Hóa, nhưng nay được Ngài tha bỗng, được Chúa xóa sạch tội, không còn bị xem là thù nghịch hay xa lạ với Ngài nữa, nhưng được phục hòa mối tương giao thân thiết với Đấng tạo dựng ra mình.

Theo như sự hướng dẫn của vị thiên sứ báo tin, những người chăn chiên đã rủ nhau vào trong thành Bết-lê-hem và tìm được hài nhi Giê-xu đang nằm trong máng cỏ.

Những người chăn chiên quỳ và chiêm bái trước Thiên Chúa Ngôi Hai trong một hài nhi đơn sơ.

Bao nhiêu mặc cảm về địa vị cùng khổ trong xã hội, bao nhiêu nỗi tuyệt vọng về tình trạng "ô uế và dơ bẩn" không sao rửa sạch được, đã hoàn toàn tan biến.

Lòng họ tràn ngập sự bình an và vui mừng, bởi vì Con Trời đã bằng lòng giáng hạ, bởi vì Chiên Con đến từ trời, để trở nên của lễ toàn hảo chuộc tội cho họ rồi.

Sử gia Lu-ca có ký thuật tiếp: "Mấy người chăn chiên trở về, tôn vinh và ca ngợi Đức Chúa Trời vì tất cả những điều họ nghe và thấy, đúng như lời thiên sứ đã báo trước cho mình" (Lu-ca 2:20)

Bản tin Giáng Sinh cho những người chăn chiên cùng khốn năm nào, cũng là bản tin Giáng Sinh tràn đầy hy vọng cho tất cả mọi người, là sứ điệp chan chứa tình yêu thương vô đối của Thiên Chúa đang dành cho chính tôi và bạn.

Ước mong quý vị và các bạn đón nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu vào trong đời sống mình ngay giờ này.

Thân chào quý vị và các bạn.