Tùng Tri

“Tùng ơi! Mày coi thử phía trước, hình như có một lá cờ phải không?”

Tiếng ba tôi la lớn, át cả tiếng máy tàu, hỏi người anh họ tôi lúc đó đang giữ tay lái tàu, khiến tôi đang nằm dưới khoang tàu, ngủ gà ngủ gật, bỗng chực choàng tỉnh.

Đây là chiếc tàu mà ba tôi đã góp nhặt vốn liếng cũng như đổ ra công sức nhiều tháng trời để tính toán và sắp xếp, rồi âm thầm nhờ người đóng, để đưa gia đình vượt biển.

Ba tôi là một công chức của chính quyền ngày trước, làm việc trong văn phòng, chẳng có kinh nghiệm gì về tàu bè hay hải hành. Thế nhưng, khi gia đình chúng tôi rơi vào cảnh cùng đường, tương lai của tám chị em chúng tôi rơi vào cảnh mù mịt, ba tôi đã trút bỏ đi hình ảnh của một người công chức làm việc trong văn phòng, để lặn lội khắp nơi trên sông nước, học cách lái tàu đi ghe, làm nghề buôn củi bằng tàu, để tìm hiểu đường sông đường biển ra sao, dò đường chuẩn bị đưa gia đình vượt biển.

Từ một công chức với áo sơ mi quần tây mỗi ngày, ba tôi đã trở thành người buôn củi chuyên nghiệp trên sông nước, làn da trở nên rám nâu vì nắng và nước lợ, lam lũ trong bộ áo quần của một người rày đây mai đó trên ghe thuyền trôi dạt trên các dòng sông tuôn ra cửa biển.

Vài tuần đi ghe buôn củi ba tôi mới về nhà một lần. Ba tôi dùng phấn vẽ trên nền gạch hình dáng chiếc tàu với kích thước thật mà ba dự định đóng, để đo đạc chiều dài của các thanh gỗ. Sau khi nhờ người đóng tàu, ba tôi phải lui tới thường xuyên để đích thân coi sóc việc này, vì ông muốn có một chiếc tàu an toàn để đưa gia đình chúng tôi ra đi.

Lúc đó, tôi là một thiếu niên chỉ vừa mới lớn lên, được ba má bảo bọc cưng chiều, để yên cho học hành để làm sao đậu vào đại học, để tránh khỏi phải đi “bộ đội”, nên tôi chỉ biết sách vở mà chẳng hề đụng chạm hay xô xát với cuộc đời thật. Do vậy mà lúc đó tôi cũng không hoàn toàn thông cảm hay hiểu rõ những nỗi gian khổ và lo lắng của một ba tôi, với trách nhiệm của một người cha phải lo cho má tôi và một đàn con tám đứa, giữa một hoàn cảnh xám xịt và bí lối.

Sau khi chiếc tàu hoàn tất và ngày vượt biển đã tới, theo như dự định, chiếc tàu chạy dọc theo sông để tiến dần về phía cửa biển. Để tránh bị lộ, trên tàu lúc đó chỉ có ít người, trong đó có ba tôi, tôi và người anh họ tên Tùng. Phần gia đình còn lại đang chờ ở một nơi khác, mà ba tôi dự định là tàu sẽ đón, sau khi vượt qua được các đồn canh dọc theo sông.

Trong lúc tàu còn chạy trong sông, thì từ xa xa ba tôi thấy hình như phía trước, dọc bên bờ sông bên phải, có thấp thoáng một lá cờ, và ông lớn tiếng hỏi anh Tùng.

Anh Tùng nhướng mắt lên coi, rồi thét trả lời lại trong tiếng gió và tiếng máy nổ:

“Cậu ơi, đúng là có ngọn cờ. Mà hình như là một cái chùa”

Ba tôi hỏi lại:

“Cái chùa hay trạm canh? Mày coi kỹ lại coi!”.

Để trả lời cho ba tôi, một tiếng súng nổ phát ra từ bờ sông bên phải, như xé nát quãng không gian trên sông, cũng như xé nát tâm hồn nhút nhát dại khờ của tôi lúc đó.

Ba tôi la lớn:

“Thôi chết rồi! Trúng phải trạm canh rồi. Tùng, mày quay mũi tàu trở lại, mau mau đi”.

Khi chiếc tàu của chúng tôi vừa quay mũi ngược lại để chạy trốn, thì bên kia bờ sông, tiếng máy nghe của trạm canh bỗng nổ dòn và chỉ một chốc lát, chiếc ghe máy đã đuổi kịp theo tàu chúng tôi.

Sau khi lục soát tàu và tìm thấy những bằng chứng hiển nhiên như hải bàn, lương thực khô, nước uống và dầu chạy máy, tất cả chúng tôi bị giải vào trạm canh. Cuộc đời tôi trước đó chỉ đóng kín trong gia đình và trường học, nhưng giờ đây phải nếm cảnh bị bắt bớ và sắp bị tù tội, khiến tôi cực kỳ lo lắng và sợ hãi. Nhưng khi nhìn có ba tôi bên cạnh, dày dạn trước những cảnh đời nguy khó, tôi lại thấy yên lòng.

Lên trạm canh, sau nhiều thủ tục kê khai rườm rà, tôi nghe ba tôi thương lượng với người của trạm canh và cuối cùng cả đôi bên đã đi đến thỏa thuận. Đó là ba tôi sẵn sàng ký vào biên bản kê khai của họ, chỉ kê khai sơ sài chứ không đầy đủ những món họ đã thực sự tịch thu được từ trên tàu của chúng tôi; thì bù lại họ sẵn sàng thả ba tôi và anh Tùng ra vào sáng sớm ngày mai, chỉ giữ tôi lại để đem về nhà giam của huyện như một bằng chứng.

Buổi chiều hôm ấy, ba cho tôi biết ba sẽ về nhà trước với anh Tùng, còn tôi sẽ bị giải vào nhà giam của huyện, nhưng ba dặn dò tôi đừng có lo, vì ba sẽ kiếm cách để đưa tôi ra thật sớm.

Qua một đêm ngủ tại trạm canh, tiếng máy ghe nổ dòn buổi sáng sớm đánh thức tôi dậy. Nhìn qua tấm phên bằng tre, tôi thấy người ta đưa ba tôi và anh Tùng lên ghe của họ rồi ghe chạy thẳng ra giữa sông, để qua bên phía bờ bên kia của con sông Đồng Tranh mênh mông bát ngát thuộc huyện Cần Giờ.

Sau gần một ngày đi tàu, tôi bị giải tới nhà giam của huyện. Đến nơi thì đã trời chập choạng tối và tôi bị đẩy vào một nơi chật chội toàn người với người, rồi cổng nhà giam khóa lại và thế là lần đầu tiên trong đời, một học sinh thuần túy như tôi trước đó chỉ biết trường học sách vở, giờ đây chính thức nếm cảnh lăn lóc của trại giam.

Mệt mỏi về thể xác, lo lắng về tinh thần cả gần hai ngày trời, khiến tôi gần như kiệt sức. Tôi nằm lăn xuống sàn và làm một giấc, bất chấp người bước qua, kẻ bước lại trên tôi trong khi tôi đang nằm ngủ, vì sáng ra tôi mới biết chỗ mình nằm tối qua gần ngay lối vào của nhà tiểu tiện của tù nhân.

Rồi tôi cũng quen dần với cảnh nhà giam tập thể, với cảnh xếp hàng lãnh cơm mỗi ngày, làm quen với người nọ người kia. Có người bị bắt vào tù vì toan tính vượt biển như tôi, nhưng cũng có người là tù hình sự, bị bắt do cướp của hay đâm chém. Trong nhà tù, có một anh tù nhân mặt mũi rất dữ dằn, được giám thị nhà tù chỉ định làm “trưởng trại” để la hét đốc thúc tù nhân làm các công việc trong trại được đúng giờ. Nhìn anh “trưởng trại” này la hét ra lệnh, tôi rất sợ.

Ba ngày sau, má tôi đến trại để thăm tôi, đem cho tôi những đồ ăn mà tôi thích. Điều lạ lùng là sau ngày má tôi lên thăm nuôi, cái anh “trưởng trại” dữ dằn ưa la hét, lâu lâu lại nhìn về phía tôi với ánh mắt không có vẻ giận dữ chút nào, mà dường như còn có điểm theo nụ cười nữa và anh cũng tỏ ra rất dễ dãi với tôi. Sau này tôi mới biết, khi đến thăm tôi, má tôi đã gởi cho anh một ít quà để nhờ anh chăm sóc cho tôi, vì ba má biết tôi còn quá non nớt trong cuộc đời, không biết có thể tự xoay xở một mình trong chốn trại giam hay không.

Sau bốn tuần ở trại giam chật chội trong huyện, tôi và một số bạn tù vượt biển được đưa ra một vùng đất nằm bên một con sông thật lớn để lao động. Ngày ngày chúng tôi phải cuốc đất, nhổ cổ, cấy mạ dưới ánh nắng chói chang, cộng thêm vùng nước lợ có pha muối, nên từ một cậu thư sinh, da mặt đến tay chân đều trắng toát, thì nay mặt mũi tay chân tôi rám nâu vì nắng vì muối. Mỗi chiều sau một ngày làm việc trên đồng, các bạn tù lội bì bõm trên các bãi bùn ven sông để bắt cá thòi lòi, một loài cá có hình dạng thật xấu xí dị hợm với hai con mắt lồi thật to nhô trên đỉnh đầu và chạy lăng quăng khắp nơi trên bùn. Chúng tôi bắt cá thòi lòi về, rửa bằng nước muối, rồi luộc lên ăn với cơm qua ngày, chứ chẳng có gia vị gì để kho cá cả.

Cả ngày lẫn đêm, có khoảng bốn đến năm người có mang súng canh chừng chúng tôi. Có lần, có một người bạn tù đang làm việc ngoài đồng, thấy có chiếc tàu chạy bên kia sông, quay quanh không thấy ai canh gác, anh bèn ngoắc chiếc tàu trên sông. Tiếc thay, chiếc tàu chưa kịp tới bờ bên đây, thì người canh gác chúng tôi lại thình lình xuất hiện và thế là người bạn tù của tôi bị một trận đánh bằng bá súng đến nhừ tử. Tôi thấy mà trong lòng đầy khiếp sợ.

Sau hai tuần làm lao động ngoài đồng, ba tôi tìm được chỗ và xin được vào để thăm nuôi tôi. Ba tôi đem đến một giỏ lá đựng đồ ăn, rồi dẫn tôi ra một gốc cây vắng vẻ. Đang ăn, ba tôi thì thầm dặn tôi:

“Ba có nhờ người địa phương chuẩn bị một chiếc ghe rồi để đưa con qua bên kia sông. Tối nay, khi trời bắt đầu tối, con chạy theo cái đường đê này, cứ chạy miết tới thì có ba đón ở đầu bên kia. Con phải về gấp vì trường con nó cứ hỏi con bệnh gì lâu quá mà không ra trình diện. Con phải ráng lên, đừng sợ!”.

Kể từ giây phút đó, cả ngày làm việc ngoài đồng, lòng tôi đầy những thấp thỏm lo âu. Nhớ đến mấy cái báng súng đập vào mặt người bạn tù khi đưa tay ngoắc tàu đi ngang sông. Nhưng cũng nhớ đến là mình đã xa trường lớp quá lâu, phải trình diện chứ không biết chuyện lôi thôi nào sẽ xảy đến nữa. Rồi với bốn năm người canh gác, làm sao mình có thể đi được.

Cả ngày đầy ắp những suy tư và lo sợ, đã khiến tôi không chú ý đến một người ăn mặc rách rưới lam lũ, nón lá phủ chụp trên đầu, đi lại quanh quẩn suốt cả ngày trên cánh đồng bên cạnh nơi tôi và các bạn tù đang làm việc.

Sau này, khi nhìn lại, tôi thấy cả cuộc đời tôi có tình thương bao la của ba má phủ đầy, cộng với vô số những điều diệu kỳ xảy ra, để giải thoát tôi qua những bước hiểm nghèo nhất của cuộc đời.

Buổi tối hôm đó, như một phép lạ, trong năm người canh gác chúng tôi, thì có bốn người rủ nhau vào những thôn xóm bên trong gần đó để mua vui, chỉ còn lại một người rủ các bạn tù leo lên nóc ghe bên sông để hóng mát và đờn ca vọng cổ. Thấy cơ hội đã gần, tôi vào trong lều, rứt ra một mớ giấy báo cầm trên tay, đến xin phép được đi vệ sinh.

Sau khi được phép đi, tôi đi ra bờ đê mà ba tôi đã dặn lúc ban sáng, và từ đó cứ thả hết tốc lực mà chạy dọc theo bờ đê. Có nhiều khi nhìn lại, tôi nghĩ rằng có thể đó là lúc tôi chạy nhanh nhất trong cuộc đời tôi. Tôi chạy một hồi, thì một bàn tay trong bụi chìa ra nắm lấy tay tôi và đó là ba tôi. Trong đêm tối, ba tôi dắt tôi chạy miết ra xa khỏi cái trại lao động, có lần dẫm vào phải đám ruộng đang cấy mạ non có người canh ban đêm, bị người ta la lớn khiến tôi giật mình hoảng sợ.

Sau khi chạy một hồi xa và đến đúng điểm hẹn, một người có ghe đang chờ sẵn để đưa chúng tôi qua sông. Chiếc ghe chèo mãi cả đêm đưa chúng tôi đi xa dần cái trại lao động và cập vào vùng đất Thị Nghè.

Cảm thấy được an toàn và trời còn khuya, ba tôi và tôi đẩy cánh cửa không khóa của cửa tiệm hớt tóc bình dân bên đường, rồi ba con tôi buông mình trên ghế sau một chuyến vượt trại tù đầy gây cấn. Khi trời vừa hừng sáng, chúng tôi rời tiệm hớt tóc, ra chợ đón xe về thành phố.

Sau này, ba tôi có kể lại với tôi:

“Khi ba thăm con ở trong trại, rồi ba giả bộ về chứ ba đâu có về. Ba sợ con nhát gan, không dám trốn, nên ba giả làm người làm ruộng, ở luẩn quẩn chung quanh chỗ con lao động, để coi con ra sao. Có mấy lần ba đến gần con, con có nhận ra ba không?”

Mấy năm sau đó, chúng tôi mới vượt biển thành công và được định cư tại Úc Đại Lợi.

Tôi luôn luôn cảm ơn Thiên Chúa vì ba của tám chị em chúng tôi là một người có ý chí phi thường, với niềm tin mãnh liệt vào tương lai và một trái tim tràn ngập yêu thương.

Ba tôi là một công chức làm việc trong văn phòng, một người thích viết lách và làm thơ; nhưng khi cần thiết cho gia đình, ông cũng sẵn sàng trở nên một người buôn củi trên sông nước, một người lam lũ rách rưới trên ruộng đồng, chỉ vì chúng tôi.

Ba tôi đã đưa cả gia đình chúng tôi ra khỏi hố thẳm tuyệt vọng, cho chúng tôi và con cháu chúng tôi một tương lai tốt đẹp lâu dài.

Thế nhưng có điều ba tôi không ngờ đến.

Đó là cũng vì ba tôi mà tôi tin rằng Thiên Chúa là Đấng Yêu Thương khi Ngài tuyên bố rằng Ngài là Cha Ở Trên Trời.

Đó là cũng vì ba tôi mà tôi tin rằng Ngài đã sai Con Một của Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu giáng trần làm người, chịu sống trong cảnh đời kham khổ và nghèo nàn, gần gũi với loài người, để rồi chịu chết đau đớn trên cây thập tự, lãnh bản nợ tội thế cho muôn người.

Bởi vì tôi thấy rằng, nếu ba tôi đã thương yêu và hy sinh cho tôi đến như vậy, thì làm sao tôi có thể nghi ngờ tình yêu của Đấng Tạo Hóa là Đấng vẫn hằng xưng mình là Cha Thiên Thượng của tôi.

Cảm ơn ba thật nhiều. Cảm ơn Chúa mãi mãi.