Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Mùa Giáng Sinh lại về với chúng ta một lần nữa.

Những cây thông Giáng Sinh xanh xanh, với chùm đèn lấp lánh, được tô điểm với những quả cầu đủ sắc đủ màu diễm tuyệt. Bên cạnh là chuồng chiên máng cỏ đơn sơ, có hài nhi Giê-xu bé nhỏ đang nằm, có ông Giô-sép và bà Ma-ri với khuôn mặt hiền từ đang ngắm nhìn hài nhi; cũng có thiên sứ trong chiếc áo trắng thánh thiện với đôi cánh trên vai đang đứng chầu và các gã chăn chiên trong những bộ áo quần lam lũ đang quỳ gối chung quanh nữa.

Hình ảnh Giáng Sinh với chuồng chiên máng cỏ, với hài nhi Giê-xu có ý nghĩa gì?

Những bài thánh ca Giáng Sinh êm đềm tha thiết trong những cung bậc của thiên đàng, có khiến cho bạn và tôi tạm dừng lại trong một chốc lát giữa cuộc đời bận rộn này, để chợt suy nghĩ, để chợt thắc mắc rằng, có một nơi xa xôi nào đó, có một chốn đời đời nào đó, mà mỗi chúng ta sẽ đi đến, sẽ bước vào, sau khi chấm dứt xong cuộc hành trình ngắn ngủi trong thế giới trước mặt này?

Những suy nghĩ ngắn ngủi này, có thể lắm, đã vài lần chợt đến trong tâm trí của chúng ta, nhưng rồi chúng cũng vội vã ra đi!

Chúng ta đã quá bận rộn trong hiện tại rồi, ai mà còn hơi sức nào để suy nghĩ đến chuyện tương lai xa xôi trong chốn đời đời nữa?

Thế nhưng, tương lai là tiếp nối của hiện tại.

Những gì mỗi chúng ta quyết định trong ngày hôm nay sẽ ảnh hưởng đến nơi ở đời đời của bạn và tôi.

Khi ra khỏi cuộc đời này và bước vào chốn vĩnh cửu, một người sẽ biết được nơi ở đời đời của mình.

Có người sẽ vui mừng quá sức; nhưng cũng lắm người sẽ tiếc nuối vô vàn.

Với những người tiếc nuối, dầu có tiếc nuối đến bao nhiêu thì mọi sự cũng sẽ lỡ làng; vì thời gian là dòng chảy một chiều, chẳng ai có thể lội ngược thời gian, chẳng ai có thể trở lại cuộc đời hiện tại, để đảo ngược hay thay đổi các quyết định của mình được nữa.

Quý thính giả thân mến,

Thiên đàng có thể còn xa xôi, thế nhưng câu trả lời về chốn thiên đàng thì đang ở thật gần với bạn và tôi!

Câu trả lời về chốn thiên đàng phước hạnh không ở nơi nào xa xôi, nhưng đang ở ngay trước mặt của mỗi chúng ta, trong hình ảnh của chuồng chiên máng cỏ với hài nhi Giê-xu, mỗi lần Giáng Sinh về.

Do vậy, ước mong quý vị và các bạn dành ra một ít thời giờ ngắn ngủi, để cùng lắng nghe những chia sẻ về ý nghĩa Giáng Sinh, cứ xem như là quý vị đang đầu tư một số vốn thời giờ rất khiêm tốn cho tương lai đời đời bất tận của chính mình vậy.

Kính thưa quý thính giả,

Chúng ta hãy cùng nhau bắt đầu với điều căn bản nhất.

Khi bạn và tôi bước ra khỏi cuộc đời này, được đem đến trước mặt Đấng Tạo Hóa là Đấng đã dựng nên mỗi chúng ta và khi Ngài hỏi bạn rằng: “Lý do nào Ta nên cho con vào thiên đàng để tận hưởng phước hạnh đời đời bên cạnh Ta?”, thì bạn và tôi sẽ trả Ngài lời như thế nào?

Nếu được hỏi như vậy, chắc chắn rằng, trước mặt Đấng Tối Cao, bạn và tôi sẽ cố gắng nhớ lại để kể ra thật đầy đủ những công việc tốt lành nhân đức mà mỗi chúng ta đã làm; vì ai ai cũng tin chắc rằng “người tốt thì được vào thiên đàng”.

Nguyên tắc “người tốt thì được vào thiên đàng” là điều thật hữu lý và hiển nhiên; ai ai cũng công nhận, tôn giáo nào cũng đồng ý, mọi triết lý đều tán thành và nền đạo đức nào cũng thừa nhận.

Tại sao ai ai cũng tin như vậy?

Nhưng quan trọng hơn nữa, có thật là “người tốt thì được vào thiên đàng” hay không?

Quý thính giả thân mến,

“Người tốt được vào thiên đàng” là điều rất hợp với quy luật công bằng.

Chẳng lẽ “người xấu mà vào thiên đàng” được chăng?

Thật đơn giản, “người làm điều tốt thì xứng đáng hưởng điều tốt”, thế thôi!

Học sinh siêng học thì kết quả thi sẽ tốt, sẽ lên lớp và sẽ tốt nghiệp. Người làm việc siêng năng chắc chắn được chủ nhân yêu thích, khen thưởng và cho lên lương. Trong đời sống tâm linh thì cũng vậy thôi, người tốt làm nhiều điều lành thì chắc chắn phải được hưởng thiên đàng thôi!

Đó là chưa kể, điều này cũng khuyến khích con người “làm lành lánh dữ’”, là điều đem đến lợi ích cho xã hội loài người.

Thế nhưng, thế nào là “tốt”?

“Tốt” đến mức nào thì mới là “đủ tốt” để được vào ở nơi phước hạnh đời đời?

Cần phải có một tiêu chuẩn thật rõ ràng về thế nào là “tốt”, vì nhờ vậy mà một người mới có thể đối chiếu, có thể so sánh, để biết được mình đã “đủ tốt” chưa; có còn kịp thời giờ để tích lũy thêm công đức trong cuộc đời, để kịp sửa sai, để kịp bù lại những việc làm không “tốt”.

Định nghĩa thế nào là “tốt” là lãnh vực chuyên môn và cũng là mục đích của tất cả các tôn giáo.

Thế nhưng có một thử thách lớn lao tại đây: đó là những tôn giáo khác nhau có những định nghĩa rất khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau, về thế nào là “tốt”.

Có tôn giáo dạy người phải xa lánh cuộc đời thế tục; trong khi có tôn giáo khác khuyên người phải biết nhập thế hòa đồng.

Có tôn giáo dạy không được sát sinh; nhưng có những tín đồ của tôn giáo khác lại hăng hái ôm bom giết hại người khác, để bảo đảm cho mình và gia đình mình một nơi ở trên thiên đàng?

Tôn giáo nào dạy đúng, tôn giáo nào dạy sai? Đâu thực sự là chân lý?

Càng tìm hiểu trong các tôn giáo khác nhau về định nghĩa thế nào là “tốt, chỉ càng rối rắm, chỉ càng mù mờ thêm mà thôi!

Có người đề nghị rằng, đừng theo tôn giáo nào cả, hãy chỉ lắng nghe tiếng nói lương tâm của mình, để biết là mình có đủ “tốt” chưa?

Thế nhưng lương tâm của một người cũng bị chi phối bởi tôn giáo và văn hóa.

Có văn hóa xem chuyện ném đá một phụ nữ hư hỏng cho đến chết là chuyện hoàn toàn hợp với lương tâm, nhưng những người thuộc văn hóa khác thì cho đây là hành động trái với lương tâm, là dã man độc ác. Lương tâm nào đúng, lương tâm nào sai?

Đó là chưa kể, ở mỗi cá nhân, lương tâm cũng thay đổi theo tuổi đời. Có một số việc lúc còn trẻ thì làm thật hăng hái với một lương tâm bình thản, lúc về già thì mới bị lương tâm cắn rứt.

Mà lương tâm cũng chỉ làm công việc cảnh cáo hay lên án khi một người làm việc sai quấy, chứ lương tâm không đưa ra lời đề nghị việc lành hay việc tốt nào chúng ta nên làm để trở nên “đủ tốt” cả.

Thật vậy, tôn giáo hay lương tâm không thể đưa ra một tiêu chuẩn tuyệt đối và chính xác về thế nào là “đủ tốt” để được vào nơi thiên đàng.

Gandhi là nhà ái quốc của Ấn Độ, chủ trương “đấu tranh bất bạo động”, có công đem lại nền độc lập cho quốc gia này vào giữa thế kỷ 20, được công nhận là một vĩ nhân và một nhà tư tưởng lớn của thế giới.

Khi được phỏng vấn, lý do tại sao ông chỉ tập trung vào lãnh vực chính trị và không bao giờ tham gia vào lãnh vực tôn giáo, Gandhi đã trả lời như sau:

“Trong lãnh vực chính trị, xã hội và kinh tế, chúng ta biết khá chắc chắn và đầy đủ để có thể thực hiện một sự thay đổi. Nhưng trong lãnh vực tôn giáo, chẳng có một tiêu chuẩn nào chắc chắn hay rõ ràng cả, thì làm sao có thể tiến hành một sự thay đổi nào”.

Gandhi, một nhà tư tưởng lớn của thế giới, sinh trưởng tại Ấn Độ, là một quốc gia tập trung nhiều tôn giáo lâu đời nhất. Thế mà, cũng giống như bạn và tôi vậy, Gandhi cũng lúng túng, không biết chắc thế nào là “đủ tốt” để có thể bước vào miền phước hạnh đời đời.

Có Ai Trọn Vẹn?

Kính thưa quý thính giả,

Kinh Thánh là một quyển sách lịch sử, ghi chép lại những biến cố thăng trầm của dân tộc Do-thái, là dân tộc mà Thiên Chúa lựa chọn để làm tuyển dân của Ngài.

Qua Kinh Thánh, Đấng Tạo Hóa bày tỏ với nhân loại Ngài là ai, cũng như cho con người biết rõ ý muốn của Ngài.

Kinh Thánh có ghi lại rất nhiều điều răn và luật lệ, thí dụ như “Mười Điều Răn” rất nổi tiếng mà hầu như ai trong chúng ta cũng từng được nghe nói qua.

Các điều răn thường đi kèm với hậu quả thưởng phạt tương xứng, thí dụ như sách Xuất Hành 21:17 có chép: “Ai rủa cha mẹ, phải bị xử tử”.

Với những điều răn dựa trên hành động để phán xét, thì chúng ta còn có hy vọng làm theo được, như điều răn: “Không được giết người”; nhưng có điều răn phán xét dựa trên suy nghĩ và thái độ, thì bạn và tôi khó lòng luôn luôn giữ được, thí dụ như điều răn: “Không được tham muốn nhà cửa của người khác”.

Làm sao trong lòng chúng ta không chợt nổi một ít “máu tham”, khi thấy người khác giàu có thịnh vượng hơn mình?

Hệ thống điều răn và luật lệ được ghi chép trong Kinh Thánh thật là chi tiết, tỉ mỉ, phức tạp và hầu như vô phương để giữ trọn vẹn.

Đó là chưa kể, khi một người Do-thái biết mình đã vi phạm một điều răn nào đó, thì người đó phải giết một con chiên, một con bò hay một con bồ câu để dâng và xin được chuộc tội. Điều này cũng có nghĩa là, nếu một người vô tình phạm luật mà không biết, thì tội lỗi của người đó vẫn còn nguyên, vì chưa được chuộc.

Một thắc mắc rất lớn tại đây là, khi bày tỏ cho nhân loại các luật lệ và điều răn, thật sự có phải Đấng Tạo Hóa muốn con người giữ trọn mọi điều này thì mới được vào nơi thiên đàng phước hạnh chăng?

Quý thính giả thân mến,

Như các dân tộc khác, như bạn và tôi, người Do-thái cũng tin rằng “người tốt thì vào thiên đàng”. Đối với họ, “tốt” đồng nghĩa với việc giữ trọn toàn bộ điều răn và luật lệ của Đức Chúa Trời được ghi chép trong Kinh Thánh.

Do vậy, có một nhóm luật gia Do-thái, còn được gọi là người Pha-ra-si, chuyên môn nghiên cứu các luật lệ và điều răn ghi trong Kinh Thánh, rồi cố gắng làm theo tất cả các điều răn thật nghiêm túc, ra sức giữ gìn mọi luật lệ thật nghiêm chỉnh. Thực vậy, họ ra sức để giữ trọn toàn bộ luật lệ và điều răn ghi trong Kinh Thánh.

Chưa hết, họ còn tự đặt thêm ra một số luật lệ riêng để làm theo, để bảo đảm mình không vi phạm, để bảo đảm tình trạng đạo đức của mình trội hơn cả tiêu chuẩn đã được ấn định, chắc chắn được hưởng thiên đàng phước hạnh mà thôi.

Có ai còn có thể đạo đức và cao trọng hơn những người Pha-ri-si này?

Có ai còn có thể xứng đáng vào thiên đàng hơn những nhà kinh luật chuyên nghiệp sốt sắng này?

Ấy vậy mà, cách đây khoảng hai ngàn năm, có một người tên là Giê-xu, có công bố với mọi người rằng:

“Ta bảo các con phải sống tốt hơn những người Pha-ri-si và các giáo sư luật, nếu không các con không thể nào vào nước thiên đàng được đâu” (Ma-thi-ơ 5:20)

Lời công bố của con người Giê-xu đã đụng chạm đến nỗi tự hào cao ngất về đạo đức trọn vẹn của giới luật gia Pha-ri-si, khiến họ vô cùng phẫn nộ.

Lời công bố này cũng khiến những người khác vô cùng sửng sốt, hoang mang và bối rối nữa.

Nếu những nhà kinh luật Pha-ri-si tận hiến trọn thời giờ của đời họ để học hỏi và giữ gìn các điều răn luật lệ, mà vẫn chưa đủ tư cách vào thiên đàng; thì những người bình thường như bạn và tôi, phải bận rộn đi làm kiếm sống mỗi ngày, phải lo cho gia đình và con cái, phải đương đầu trong cuộc sống luôn luôn, thì làm sao có đủ thời giờ với sức lực mà giữ luật hay làm theo các điều răn, thì làm sao có được một hy vọng nhỏ nhoi nào để đạt tới tiêu chuẩn quá cao vời của thiên đàng được!

Con người Giê-xu là ai?

Dựa vào nền tảng nào mà Ngài công bố như vậy?

Ngài muốn chỉ ra điều gì với mọi người?

Quý thính giả thân mến,

Tiêu chuẩn của những luật gia Pha-ra-si đã là quá khó khăn để thực hiện, ấy vậy mà con người Giê-xu vẫn không bằng lòng những tiêu chuẩn đó. Ngài đã đưa ra một tiêu chuẩn mới, vượt trội hơn những tiêu chuẩn của các luật gia Pha-ri-si và của truyền thống Do-thái giáo.

Như khi diễn giải về điều răn thứ bảy trong “Mười Điều Răn”, con người Giê-xu có nói:

“Các con có nghe nói, “Ngươi không được phạm tội ngoại tình”. Nhưng ta bảo các con, ai nhìn đàn bà mà động lòng dục với người ấy thì trong tâm trí xem như đã phạm tội ngoại tình với người đàn bà ấy rồi” (Ma-thi-ơ 5:27-28)

Hay như về điều răn thứ sáu trong “Mười Điều Răn”, con người Giê-xu có giải thích:

“Các con có nghe người ta dạy dân chúng từ xưa, “Ngươi không được giết người. Ai giết người sẽ bị xét xử.” Nhưng ta bảo các con, ai tức giận anh chị em mình sẽ bị xét xử” (Ma-thi-ơ 5:21-22).

Có ai mà không một lần có thoáng qua một ý tưởng thiếu ngay thẳng?

Có ai trong đời mà không một lần nóng giận?

Trước sự giải thích mới của con người Giê-xu về luật lệ và điều răn của Thiên Chúa, tất cả mọi người, trong mọi dân tộc, trong mọi thời đại, bất chấp mọi tước vị hay danh hiệu, bất chấp tình trạng đạo đức cao cả đến đâu, kể cả những thầy luật gia Pha-ra-si chuyên nghiệp, tất cả bỗng nhiên đều trở nên thiếu sót và hụt hẫng.

Con người Giê-xu là ai vậy?

Ngài có thẩm quyền gì để thẩm định mọi người như thế?

Sự kiện Giáng Sinh, mà chúng ta sẽ đi vào chi tiết, cho biết con người Giê-xu chính là Thiên Chúa Ngôi Hai, cách đây hơn hai ngàn năm, đã tự nguyện giáng trần làm người, để thực thi chương trình cứu rỗi nhân loại.

Chúa Giê-xu, hay chính là Đấng Tạo Hóa trong thân xác con người, với lời diễn giải về các điều răn và luật pháp được ghi lại trong Kinh Thánh, đã nhắc lại mục đích chính vì sao luật pháp và điều răn được ban cho loài người.

Đó là, luật pháp và điều răn để bày tỏ cho nhân loại biết rằng, Đấng Tối Cao là thánh khiết tuyệt đối, ưa chuộng sự công bình và ngay thẳng, như sách Phục Truyền 32:4 có chép:

“Đường lối Ngài chính là công lý,
Tuyệt đối chính trực và công bằng
Luôn thành tín, không hề nhiễm tội”

Luật pháp và điều răn cũng chỉ ra tất cả chúng ta đều bất khiết trước mặt Đấng tạo dựng ra mình; tất cả đều phạm tội nghịch với Ngài và với tha nhân, như sách Rô-ma 3:10 và 3:23 có khẳng định:

“Chẳng có ai công chính cả, dù một người cũng không... mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh quang của Đức Chúa Trời”

Luật pháp và điều răn vạch trần tình trạng bất lực của loài người, vô phương tự cứu mình qua con đường vâng giữ luật pháp, qua mọi phương cách tu hành hay tích lũy công đức việc lành, như sách Rô-ma 3:20 có tuyên bố:

“...vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi”

Cuối cùng, luật pháp và điều răn chỉ ra hệ quả của tội lỗi là những đớn đau rủa xả trong cuộc đời trước mặt và sự xa cách vĩnh viễn với Đấng Tạo Hóa trong nơi đời đời, như sách Rô-ma 6:23 có ghi:

“Ai phạm tội thì phải lãnh tiền công của tội lỗi; đó là sự chết”

Quý thính giả thân mến,

Nguyên tắc “người tốt thì được vào thiên đàng” bắt đầu với một điều kiện là phải “tốt”.

Thế nhưng, qua tiêu chuẩn của Đấng Tạo Hóa được ghi trong Kinh Thánh, chẳng ai trong chúng ta “đủ tốt” cả.

Tất cả chúng ta đều là xấu.

Kinh Thánh cũng bày tỏ, Chúa Giê-xu giáng trần để thực thi chương trình cứu rỗi nhân loại, trong đó có bạn và tôi.

Ngài cứu bạn và tôi bằng cách nào?

Chẳng lẽ người xấu mà vào thiên đàng được chăng?

(Đọc tiếp) Next