Tùng Tri

Kính thưa quý thính giả,

Ai trong chúng ta mà không từng nghe đến những câu ca dao chứa chan tình cảm, như là:

“Thuyền về có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

hay những vầng thơ lãng mạn trữ tình, thí dụ như:

“Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn lại hàng cau, nắng mới lên”.

Dường như những câu ca dao chúng ta thuộc lòng, những vầng thơ bạn và tôi khó quên, những tác phẩm văn chương kiệt tác, những bài nhạc còn sống mãi với thời gian, những công trình nghệ thuật để đời, tất cả chỉ để diễn tả thật tinh tế về những mối quan hệ giữa con người với nhau. Những mối quan hệ này có thể là với người mình đang yêu, với vợ hay chồng, với cha mẹ, với con cái, với anh chị em, với họ hàng thân thuộc, với chòm xóm láng giềng, với người bạn thân vv.

Đó có thể là một chuyện tình tha thiết, là tấm gương hy sinh vô bờ bến của một người cha hay người mẹ dành cho con cái mình, hay có thể là một tình bạn gắn bó keo sơn; nhưng cũng có thể là một trái tim tan vỡ, một chuyện tình đầy nước mắt, hay một cảnh trái ngang chia lìa.

Các mối quan hệ có thể mang đến niềm hạnh phúc to lớn, nhưng cũng có thể là nguyên nhân của những trăn trở xót xa nhất trong tâm hồn của bạn và tôi. Chúng ta mong đợi thao thức; chúng ta sẵn sàng sống và cũng sẵn sàng chết chỉ vì một mối quan hệ nào đó.

Điều này cho thấy, trong tất cả những phương diện của đời sống, mối quan hệ với những người chung quanh là phương diện quan trọng nhất của mỗi con người chúng ta.

Ước mơ lớn nhất của một người nằm trong các mối quan hệ.

Cốt lõi của đời sống con người nằm trong các mối quan hệ.

Trong tất cả những phương diện khác nhau của đời sống, tại sao con người chúng ta lại xem trọng các mối quan hệ nhất?

Quý thính giả thân mến,

Sở dĩ bạn và tôi xem trọng những ràng buộc liên hệ với những người chung quanh hơn tất cả những điều khác trong cuộc sống, vì Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng chúng ta ra như vậy.

Sáng Thế Ký là quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh, có tường thuật lại công trình sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài của Thiên Chúa. Trong chương mở đầu của sách này, câu 26 & 27 có ghi lại cách Đấng Tạo Hóa dựng lên loài người chúng ta, được chép như sau:

“Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta hãy tạo nên loài người như hình thể Ta và giống như Ta....Đức Chúa Trời tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người như hình ảnh Đức Chúa Trời”.

Thiên Chúa bắt đầu lời phán của Ngài với danh từ số nhiều “Chúng ta hãy”, bởi vì trong Thiên Chúa có Ba Ngôi Vị khác nhau. Từ trước vô cùng và cho đến vĩnh viễn, giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, là một mối quan hệ khắng khít ràng buộc chẳng bao giờ rời nhau, là một tình yêu trọn vẹn vững bền mãi mãi. Cũng do vậy mà Kinh Thánh sách Giăng 4:8 có tuyên bố “Đức Chúa Trời là tình yêu thương”.

Khi Thiên Chúa tuyên phán Ngài sẽ dựng nên loài người “giống như Ngài” hay “theo hình ảnh Ngài”, điều đó có nghĩa là Đấng Tạo Hóa dựng nên và ban cho con người mọi bản tánh, mọi ý chí và mọi tình cảm để thôi thúc, để tìm kiếm, để xây đắp các mối liên hệ và để giữ gìn trân quý các sợi dây quyến luyến này bằng tình yêu thương, cũng giống như giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau vậy.

Thật vậy, loài người được dựng nên, trước hết là để quan hệ với Đấng Tạo Hóa.

Trong tất cả các loài thọ tạo có thân xác sống động trên mặt đất này, chỉ duy con người được Thiên Chúa ban cho phần tâm linh, hay chính là linh hồn, để chúng ta có thể giao thông liên lạc, để có thể tận hưởng mối quan hệ gắn bó yêu thương với Đấng tạo dựng ra mình.

Tiếp theo, loài người được dựng nên cũng để quan hệ với nhau, như chính Thiên Chúa có khẳng định: “Con người ở một mình không tốt!” (Sáng Thế Ký 2:18)

Trong vườn địa đàng năm xưa, chẳng có lễ nghi tôn giáo, chẳng có hình thức kiểu cách nào, mà cũng chẳng có nỗi kinh sợ hay mặc cảm nào chen vào, nhưng giữa hai con người đầu tiên là A-đam và Ê-va và Đấng Tối Cao, chỉ đơn giản là một mối quan hệ gần gũi vui sướng bên nhau.

Trong những ngày đầu sáng thế, khi A-đam và Ê-va còn hoàn toàn vô tội, mối quan hệ vợ chồng giữa hai người là toàn hảo và trong suốt, như Sáng Thế Ký 2:24-25 có ghi: “hai người trở thành một. A-đam và vợ đều trần truồng, nhưng không hổ thẹn”

Kính thưa quý thính giả,

Quỷ vương là kẻ kiêu ngạo và giả dối, muốn tiếm quyền tối thượng của Đấng Tạo Hóa, không ngừng kiếm cách phá hủy công trình sáng tạo của Ngài và luôn tìm cách chia rẽ loài người với Đấng Tối Cao.

Sách Sáng Thế Ký tường thuật, một ngày kia quỷ vương giả dạng trong một con rắn, lẻn trong vườn địa đàng để phỉnh dụ Ê-va hái trái Thiên Chúa cấm để ăn, để mắt được mở ra và được trở nên khôn ngoan ngang hàng y như Ngài vậy.

Ê-va đã siêu lòng, bất tuân mạng lệnh của Thiên Chúa, hái trái từ cây “Biết Thiện Ác” để ăn, rồi cũng trao cho chồng là A-đam cùng ăn nữa.

Ngay từ giây phút đó, vì hành động bất tuân của A-đam và Ê-va bày tỏ hai người không còn tin cậy trọn vẹn vào nơi Thiên Chúa nữa, đã khiến cho mối quan hệ vốn toàn hảo giữa con người và Đấng Tạo Hóa không còn toàn hảo nữa. Thay vì vui mừng chờ đón Thiên Chúa như thường lệ khi nghe tiếng chân của Ngài đi lại trong vườn lúc chiều mát, thì lần đầu tiên, vì mặc cảm tội lỗi chen vào, đã khiến A-đam và Ê-va tìm ẩn nấp giữa lùm cây để tránh mặt Đấng đã tạo dựng ra mình và hết lòng thương yêu mình.

Cũng kể từ khi sập bẫy của quỷ vương, phạm tội nghịch với Thiên Chúa, tình nghĩa vợ chồng hiệp nhất của hai con người đầu tiên cũng không còn trọn vẹn như trước nữa. Trước mặt Thiên Chúa, A-đam đã đổ lỗi cho vợ và rồi cũng đổ lỗi cho Thiên Chúa nữa; còn Ê-va thì đổ lỗi cho con rắn đã phỉnh gạt mình.

Đấng Tạo Hóa toàn năng, bên cạnh bản tánh yêu thương trọn vẹn, Ngài còn thánh khiết tuyệt đối và công bằng tuyệt đối nữa. Điều này có nghĩa là trái tim Ngài đầy trọn tình yêu, mắt Ngài trong sạch không thể nhìn thấy tội lỗi và Ngài không hề để kẻ phạm tội thoát khỏi hình phạt.

Vì phạm tội, A-đam và Ê-va đã bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen.

Mối quan hệ toàn hảo giữa loài người và Đấng Tạo Hóa đã gãy đỗ, tạo nên một khoảng trống to lớn trong tâm linh của mỗi người mà không điều gì trên đời này có thể lấp đầy được.

Tiền bạc nhiều đến đâu, cuộc vui dài đến mấy, có đeo đuổi nghề nghiệp, có đam mê nghệ thuật, có leo được đến đỉnh danh vọng, có gặt hái nhiều thành công, thậm chí được tận hưởng những mối tình thắm thiết lãng mạn, nhưng rốt cuộc cũng không sao lấp đầy được khoảng trống to lớn trong tâm linh, cũng không sao che đậy được sự vô nghĩa trống rỗng của cuộc đời, như lời than của vua Sa-lô-môn giàu có khôn ngoan bậc nhất trong thiên hạ, được ghi trong sách Truyền Đạo 1:2 rằng

“Mọi việc trên đời đều vô nghĩa, tất cả đều hư ảo, phù hoa!”

Tội lỗi tràn lan, chen vào làm hư hỏng mọi mối quan hệ của con người với nhau.

Tình yêu thương, lòng tôn trọng, thái độ quan tâm nhường nhịn nhau để vun đắp các mối quan hệ, đã bị bản tính kiêu căng, lòng tham lam, đầy lừa dối và ganh ghét chen vào làm cho vẩn đục.

Đời người lạc loài trong trống rỗng và vô mục đích.

Thất vọng triền miên trong các mối quan hệ.

Già nua bệnh tật rồi qua đời.

Thân xác trở về cát bụi.

Còn linh hồn trở về bên Đấng Tối Cao để chịu phán xét, để hứng chịu sự chia cách đời đời, như lời tuyên bố được ghi trong Kinh Thánh, sách Hê-bơ-rơ 9:27 rằng:

“Như đã được ấn định, loài người phải chết một lần, sau đó phải chịu xét đoán”

Giải Hòa Với Loài Người

Kính thưa quý thính giả,

Từ trước vô cùng và cho đến đời đời, trái tim của Đấng Tối Cao vẫn luôn nằm trong các mối quan hệ. Toàn bộ luật pháp và mạng lệnh Ngài ban cho loài người thể hiện trái tim khao khát nồng nàn đó.

Xin mời quý vị và các bạn hãy cùng nhau nhìn lại Mười Điều Răn có ghi trong Kinh Thánh, là nền tảng của tất cả luật pháp và mạng lệnh Thiên Chúa ban cho con người.

Thứ nhất, ngoài Thiên Chúa, con người không được thờ bất kỳ thần nào khác.

Thứ nhì, không được chạm tượng theo hình dạng của bất cứ vật gì ở trên trời cao, ở trên mặt đất hay ở dưới nước, cũng như không được sấp mình thờ phượng các tượng ấy.

Thứ ba, không được dùng tên Thiên Chúa một cách thiếu tôn kính.

Thứ tư, phải biệt riêng cho Thiên Chúa một ngày nghỉ mỗi tuần.

Thứ năm, phải hiếu kính cha mẹ.

Thứ sáu, không được giết người.

Thứ bảy, không được tà dâm.

Thứ tám, không được trộm cắp.

Thứ chín, không được làm chứng dối để hại người.

Thứ mười, không được tham muốn nhà cửa, vợ, tôi trai, tớ gái, bò lừa hay bất cứ thứ gì của người khác.

Toàn bộ Mười Điều Răn là để xây đắp các mối quan hệ.

Bốn điều răn đầu tiên là để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Đấng tạo dựng ra mình.

Còn sáu điều răn còn lại là để mỗi chúng ta xây đắp mối liên hệ yêu thương với những người chung quanh mình, bắt đầu với lòng hiếu kính cha mẹ, rồi tiếp đến những người khác.

Chúa Cứu Thế Giê-xu, hay chính là Thiên Chúa Ngôi Hai, Đấng đã giáng trần làm người cách nay hơn 2000 năm, khẳng định điều này một lần nữa như sau:

“Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, và hết trí tuệ mà yêu kính Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. Đây là điều răn lớn nhất và trước hết. Còn điều răn thứ hai cũng vậy, “Ngươi hãy yêu người lân cận như mình”. Toàn bộ Luật Pháp và các tiên tri đều đặt nền tảng trên hai điều răn ấy.” (Ma-thi-ơ 22:37-40)

Như vậy, toàn bộ luật pháp và mọi lời khuyên răn, không ngoài mục đích nào khác, nhưng là để xây dựng lòng yêu kính với Đấng Tối Cao và để xây dựng tình yêu thương với những người chung quanh.

Chúa Cứu Thế Giê-xu có nhấn mạnh: “Hãy hết lòng, hết linh hồn và hết trí tuệ”.

Mỗi chúng ta được đòi hỏi phải làm theo các mạng lệnh một cách triệt để. Phải giữ toàn bộ luật pháp, không được chọn điều này mà bỏ điều kia. Phải làm luôn luôn, làm đối với mọi người không phân biệt một ai, làm ở mọi nơi chốn và trong mọi hoàn cảnh. Đó là chưa kể, mọi việc làm đó phải xuất phát từ lòng yêu thương chân thành nơi đáy trái tim, chứ không vì trách nhiệm hay bị cưỡng ép.

Quý thính giả thân mến,

Đấng Tối Cao ban cho con người luật lệ và các điều răn, để loài người nhận ra trái tim của Ngài nằm trong các mối quan hệ; cũng như để chỉ ra, dưới ách nô lệ của tội lỗi, tất cả chúng ta đều bất lực, vô phương cách làm trọn những mong ước của Đấng tạo dựng ra mình.

Tất cả những suy nghĩ, lời nói và hành động của một người, khi không theo đúng với luật lệ của Đấng Tạo Hóa, kể cả khi không làm điều lẽ ra phải làm, thì được gọi là “tội lỗi”.

Kinh Thánh, sách Rô-ma 3:23 khẳng định:

“Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh hiển của Đức Chúa Trời”.

Khi một người phạm tội, người đó đang làm tổn thương Đấng Tạo Hóa, cũng như tổn thương những người chung quanh mình. Chiếu theo luật công bình tuyệt đối của Thiên Chúa, vì tất cả mọi người đã phạm tội, nên tất cả đều phải đón nhận hình phạt là sự chết, như Kinh Thánh, sách Rô-ma 6:23 có tuyên bố:

“Lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là cái chết”.

Hiện tại của đời người là những ngày đầy lỗi lầm, lặn hụp triền miên trong tội lỗi, rồi thể xác chết trước. Tiếp đến là cái chết thứ hai, khi linh hồn người đó trở về với Đấng Tối Cao để bị đoán xét về mọi điều mình đã suy nghĩ, đã nói và đã làm; để rồi linh hồn phải bị ném vào trong nơi đau khổ đời đời.

Đấng Tạo Hóa tạo dựng nên con người để xây đắp mối quan hệ đời đời trong sợi dây yêu thương. Nhưng theo luật pháp công bình do chính Ngài ban ra, Ngài cũng không thể làm ngơ mà không hình phạt con người vì đã phạm tội và nếu vậy, tất cả mọi người sẽ bị hình phạt và phải xa cách Ngài vĩnh viễn mà thôi.

Tình trạng tội lỗi của loài người đã khiến cho trái tim của Đấng Tạo Hóa tan vỡ đớn đau, vì Ngài có muốn thấy ai bị rơi vào hố diệt vong xa cách bao giờ.

Kính thưa quý thính giả,

Đấng Tạo Hóa biết trước thủy tổ loài người là A-đam và Ê-va, sẽ bất tuân mạng lịnh của Ngài, ăn trái cấm, mở cửa cho tội lỗi tràn vào dòng nhân loại. Do vậy, từ trước vô cùng, trước khi sáng tạo nên trời đất và muôn loài, Ba Ngôi Thiên Chúa đã hoạch định trước về chương trình cứu chuộc loài người ra khỏi bản án phạt đời đời, để đem con người trở lại trong mối quan hệ thuận hòa với Ngài và để chữa lành mối quan hệ giữa con người với nhau.

Thiên Chúa Ngôi Hai, hay Con Một Thiên Chúa, đã được chỉ định để giáng trần làm người, để rồi sau đó phải bị đổ huyết, làm của lễ chuộc tội cho cả loài người, vì luật công bình của Đấng Tạo Hóa có khẳng định:

“Nếu không đổ huyết, tội lỗi chẳng bao giờ được tha thứ” (Hê-bơ-rơ 9:22)

Thiên Chúa chọn dân Do-thái làm tuyển dân của Ngài và trong lòng dân tộc này mà Thiên Chúa Ngôi Hai sẽ giáng trần làm người.

Kinh Thánh, thực ra là một quyển sách lịch sử của tuyển dân này, ghi lại những điều đã xảy ra; tất cả cũng chỉ để báo trước và hướng về sự giáng sinh của Con Một Thiên Chúa. Từ mấy ngàn năm trước, hàng năm mỗi gia đình Do-thái phải chọn một con chiên lành lặn không tì vít để giết và làm của lễ dâng lên Thiên Chúa. Con chiên lành lặn, bị giết đến nỗi máu phải tuôn đổ, là hình ảnh báo trước về sứ mạng của Con Trời, phải giáng trần để rồi chịu chết, chuộc tội cho toàn nhân loại.

Cách đây hơn hai ngàn năm, một trinh nữ tên là Ma-ri, được thụ thai bởi quyền năng của Thiên Chúa, sanh ra một hài nhi. Ma-ri đặt tên hài nhi là Giê-xu, theo như lời căn dặn trước đó của một vị thiên sứ rằng: “hãy đặt tên là Giê-xu vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi” (Ma-thi-ơ 1:21)

Sau ba mươi năm sống âm thầm tại một miền quê, Chúa Cứu Thế Giê-xu bắt đầu đi nhiều nơi tại xứ Do-thái, để giảng dạy, để chữa bệnh và làm nhiều phép lạ. Ngài có mười hai môn đệ thân tín và nhiều người thân cận khác.

Chỉ trong khoảng ba năm, khắp xứ ai ai cũng biết đến Ngài là người giảng dạy đầy uy quyền và chân lý, đi kèm theo với nhiều phép lạ để đuổi quỷ và chữa nhiều người hết bệnh. Điều này đe dọa uy tín và địa vị béo bở của các nhà lãnh đạo Do-thái thời bấy giờ, do vậy đã từ lâu họ luôn kiếm mọi cách để trừ khử Ngài.

Trong một đêm vào mùa Lễ Vượt Qua, là một trong những lễ hội quan trọng nhất hằng năm khi người Do-thái phải giết chiên để làm của lễ dâng, thì Chúa Giê-xu đã bị bắt. Ngài bị lính La-mã tra tấn đánh đập dã man, khạc nhổ giễu cợt. Ngài bị các nhà lãnh đạo Do-thái giáo, rồi đến quan tổng trấn đại diện chính quyền cai trị La-mã, tra hỏi chất vấn để bắt tội, nhưng cuối cùng không ai tìm thấy Ngài có tội lỗi gì.

Cuối cùng, các nhà lãnh đạo Do-thái giáo xúi dục dân chúng kêu gào, hò hét đòi giết Ngài. Để tránh một cuộc nổi loạn, quan tổng trấn La-mã đã ra lệnh đóng đinh Ngài trên cây thập tự.

Chúa Cứu Thế Giê-xu bị đóng đinh, bị treo trên cây thập tự và trút hơi thở cuối cùng; hông của Ngài bị giáo đâm, máu tuôn tràn, vào đúng ngày Lễ Vượt Qua hằng năm khi người Do-thái giết những con chiên lành lặn để dâng lên Thiên Chúa.

Chúa Cứu Thế Giê-xu chính là Chiên Con Vô Tội đến từ trời, bị giết để làm Của Lễ hoàn hảo dâng lên Thiên Chúa, để chuộc tội cho mỗi chúng ta.

Bất kỳ ai ý thức mình là tội nhân trước mặt Đấng Tạo Hóa, bằng lòng tin nhận vào tình yêu tha thứ và sự hy sinh chết thế của Chúa Cứu Thế Giê-xu, thì người đó được tha bỗng, được tuyên bố là vô tội, không còn bị đoán xét nữa, nhưng được khôi vị mối quan hệ làm con với Đấng Tối Cao và nhận lãnh sự sống đời đời, như Kinh Thánh, sách II Cô-rinh-tô 5:19 có tuyên bố: “

“Do công lao Chúa Cứu Thế, Thượng Đế đã cho nhân loại hòa giải với Ngài, không còn kể đến tội lỗi họ”.

Chính trên cây thập tự năm xưa, cả hai phương diện dường như không thể dung hòa với nhau, đó là tình yêu vô điều kiện của Đấng Tạo Hóa dành cho loài người và sự công bình tuyệt đối của Ngài, đã được đồng thỏa mãn thật trọn vẹn vậy.

Next